Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TC

TỈNH SƠN LA

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 65/2024/HNGĐ- ST

Ngày: 18-7-2024

V/v: Ly hôn, nuôi con chung.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TC, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lò Mai Xiêng.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Bà Lý Thị Vinh
  2. Ông Phạm Ngọc Thiệp

- Thư ký phiên tòa: Bà Lò Thị Hiền- Thư ký Toà án nhân dân huyện TC, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TC, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Bích Nguyệt - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện TC, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 119/2024/TLST - HNGĐ ngày 01 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 64/2024/QĐXXST- HNGĐ, ngày 21 tháng 6 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 69/2024/QĐST-HNGĐ ngày 10 tháng 7 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 78/2024/QĐST-HNGĐ ngày 15 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Vừ Thị Đ, sinh năm 1998.
    Địa chỉ: Bản Bó (nay là bản Tinh Lá), xã P, huyện TC, tỉnh Sơn La.
    ( Vắng mặt tại phiên tòa, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
  2. Bị đơn: Anh Và A S, sinh năm 1994.
    Địa chỉ: Bản Bó (nay là bản Tinh Lá), xã P, huyện TC, tỉnh Sơn La.
    ( Vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, bản tự khai và đơn xin xét xử vắng mặt nguyên đơn chị Vừ Thị Đ trình bày:

Về hôn nhân: Chị Vừ Thị Đ và anh Và A S kết hôn với nhau, đăng ký kết hôn ngày 25/01/2021 tại Ủy ban nhân dân xã Pá Lông, huyện TC, tỉnh Sơn La, kết hôn tự nguyện không bị ép buộc. Quá trình chung sống hòa thuận được một thời gian có phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra cãi vã, không có tiếng nói chung, mâu thuẫn trầm trọng kéo dài, vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 12 năm 2023 cho đến nay, không ai quan tâm đến cuộc sống của ai. Chị Vừ Thị Đ xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị ly hôn với anh Và A S.

Về con chung: Chị Vừ Thị Đ và anh Và A S có 02 (hai) con chung là cháu Và Thị Chi, sinh ngày 29/12/2015 và cháu Và A Hùng, sinh ngày 07/3/2016.

Chị Vừ Thị Đ có nơi cư trú ổn định. Chị Vừ Thị Đ trồng trọt, chăn nuôi, có thu nhập. Chị Đông có đủ điều kiện nuôi dưỡng và chăm sóc con.

Chị Vừ Thị Đ đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Và Thị Chi và giao cháu Và A Hùng cho anh Và A S được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc.

Về cấp dưỡng nuôi con: Không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản riêng: Không có.

Về nợ chung: Chị Vừ Thị Đ cam đoan không có nợ chung.

Tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ ngày 16/5/2024, ngoài những tài liệu, chứng cứ do chị Đông đã giao nộp, chị Đông không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì thêm và không yêu cầu triệu tập đương sự khác, người làm chứng, người tham gia tố tụng khác.

Tại biên bản xác minh ngày 14/5/2024 tại bản Tinh Lá, xã Pá Lông, huyện TC, tỉnh Sơn La, chị Vừ Thị Đ và anh Và A S có hộ khẩu thường trú tại bản Tinh Lá, xã Pá Lông, huyện TC, có đăng ký kết hôn với nhau tại Ủy ban nhân dân xã Pá Lông, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La. Trong quá trình chung sống có phát sinh mâu thuẫn. Gia đình đã hòa giải nhiều lần nhưng không hàn gắn được. Hiện nay chị Đông và anh Sá đã sống ly thân, chị Đông bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở tại xã Co Tòng, huyện TC. Chị Vừ Thị Đ và anh Và A S có 02 (hai) con chung cháu Và Thị Chi, sinh ngày 29/12/2015 và cháu Và A Hùng, sinh ngày 07/3/2016. Tài sản chung, nợ chung: Không nắm được.

Tại biên bản ghi ý kiến, cháu Và Thị Chi có nguyện vọng là ở với bố hoặc mẹ, cháu Và A Hùng có nguyện vọng là ở với bố.

Chị Vừ Thị Đ có đơn đề nghị xét xử vắng mặt: Chị Đông giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và ý kiến trong bản tự khai.

Bị đơn anh Và A S đã được triệu tập hợp lệ, giao thông báo về việc thụ lý vụ án, giấy triệu tập đương sự, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, thông báo về kết quả về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, các Quyết định hoãn phiên tòa của Tòa án nhân dân huyện TC. Anh Và A S không chấp hành giấy triệu tập của Tòa án, không viết bản tự khai, không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và phiên hòa giải.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện TC phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán: Kể từ khi Tòa án tiến hành thụ lý vụ án cho đến khi ra quyết định đưa vụ án ra xét xử, Thẩm phán đã thực hiện các thủ tục tố tụng theo đúng quy định của pháp luật.

Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại phiên tòa Hội đồng xét xử tham gia đúng thành phần trong quyết định đưa vụ án ra xét xử, các trình tự của phiên tòa diễn ra theo đúng quy định của pháp luật.

Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn không thực hiện không đầy đủ các quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc Tòa án mở phiên tòa xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng quy định pháp luật.

Viện kiểm sát đề nghị áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Vừ Thị Đ được ly hôn anh Và A S.

Về con chung: Giao cháu Và A Hùng, sinh ngày 07/3/2016 cho anh Và A S trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục; giao cháu Và Thị Chi, sinh ngày 29/12/2015 cho chị Vừ Thị Đ trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Vừ Thị Đ, anh Và A S không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản riêng: Không có.

Về nợ chung: Chị Vừ Thị Đ, anh Và A S không có nợ chung.

Về án phí: Miễn án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch cho nguyên đơn chị Vừ Thị Đ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến của Kiểm sát viên Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Nguyên đơn chị Vừ Thị Đ yêu cầu giải quyết ly hôn với bị đơn anh Và A S có địa chỉ tại bản Tinh Lá, xã Pá Lông, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La. Tòa án nhân dân huyện TC, tỉnh Sơn La thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về sự vắng mặt của nguyên đơn chị Vừ Thị Đ, bị đơn anh Và A S: Nguyên đơn chị Vừ Thị Đ có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn. Bị đơn anh Và A S đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ ba vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Vừ Thị Đ và anh Và A S kết hôn với nhau, đăng ký kết hôn ngày 25/01/2021 tại Ủy ban nhân dân xã Pá Lông, huyện TC, tỉnh Sơn La, kết hôn tự nguyện, sau khi kết hôn đến tháng 12 năm 2023 phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung, thường xuyên xảy ra cãi vã, hôn nhân gia đình trở nên bế tắc, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị Vừ Thị Đ và anh Và A S đã sống ly thân từ tháng 12 năm 2023 cho đến nay, không ai quan tâm tới cuộc sống của ai. Chị Đông cho rằng tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị được ly hôn anh Và A S.

Trên cơ sở xem xét các tài liệu, chứng cứ, bản tự khai, biên bản xác minh tại chính quyền địa phương.

Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Đông và anh Sá lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, xử cho chị Vừ Thị Đ được ly hôn anh Và A S. Căn cứ vào các Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[3] Về con chung: Chị Vừ Thị Đ và anh Và A S có 02 (hai) con chung là cháu Và Thị Chi, sinh ngày 29/12/2015 và cháu Và A Hùng, sinh ngày 07/3/2016.

Chị Vừ Thị Đ đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cháu Và Thị Chi và giao cháu Và A Hùng cho anh Và A S được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục. Chị Vừ Thị Đ không yêu cầu anh Và A S cấp dưỡng nuôi con chung.

Chị Đông, anh Sá có nơi cư trú ổn định, trồng trọt, chăn nuôi, có thu nhập. Chị Đông, anh Sá có đủ khả năng và điều kiện nuôi con.

Ý kiến cháu Và Thị Chi có nguyện vọng là ở với bố hoặc mẹ. Cháu Và A Hùng có nguyện vọng là ở với bố.

Từ các căn cứ nêu trên xét thấy: Để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con, sự phát triển về thể chất, tâm sinh lý, cần giao cháu Và A Hùng, sinh ngày 07/3/2016 cho anh Và A S trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Giao cháu Và Thị Chi, sinh ngày 29/12/2015 cho chị Vừ Thị Đ trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Vừ Thị Đ, anh Và A S không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Căn cứ Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.

[4] Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[5] Về tài sản riêng: Không có.

[6] Về nợ chung: Chị Vừ Thị Đ, anh Và A S không có nợ chung.

[7] Về án phí: Chị Vừ Thị Đ có đơn xin miễn án phí dân sự sơ thẩm, xét thấy chị Vừ Thị Đ là người dân tộc thiểu số sống ở xã có điều kiện kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn, căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch cho nguyên đơn chị Vừ Thị Đ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; khoản 1 Điều 228; Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Vừ Thị Đ được ly hôn anh Và A S.
  2. Về con chung: Giao cháu Và Thị Chi, sinh ngày 29/12/2015 cho chị Vừ Thị Đ trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Giao cháu Và A Hùng, sinh ngày 07/3/2016 cho anh Và A S trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.

    Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này, không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con.

  3. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Vừ Thị Đ, anh Và A S không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
  4. Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  5. Về tài sản riêng: Không có.
  6. Về nợ chung: Chị Vừ Thị Đ và anh Và A S không có nợ chung.
  7. Về án phí: Miễn án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch cho nguyên đơn chị Vừ Thị Đ. Hoàn trả lại chị Vừ Thị Đ số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số: 0001769, ngày 01 tháng 4 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện TC, tỉnh Sơn La.

8. Về quyền kháng cáo: Chị Vừ Thị Đ, anh Và A S được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Sơn La;
  • - VKSND huyện TC;
  • - Chi cục THADS huyện TC;
  • - UBND xã P, huyện TC;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lò Mai Xiêng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 65/2024/HNGĐ- ST ngày 18/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TC, TỈNH SƠN LA về ly hôn, nuôi con chung.

  • Số bản án: 65/2024/HNGĐ- ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con chung.
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TC, TỈNH SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: xử ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger