|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH TỈNH KIÊN GIANG Bản án số: 65/2024/HS-ST Ngày 18-7-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Chí Công
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tấn Để
Bà Hồ Thị Hoa
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thùy Trang - Thư ký Toà án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang
- Đại diện Viện kiểm sát nhân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đông Hải - Kiểm sát viên
Ngày 18 tháng 7 năm 2024 tại Toà án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 64/2024/TLST-HS ngày 21 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 67/2024/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn M, sinh ngày 25 tháng 12 năm 1996 tại A, Kiên Giang; CCCD [...]; Nơi cư trú: ấp A H, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang; Giới tính: nam; Nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 6/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; con ông Nguyễn Thành T và bà Nguyễn Thị C; chưa có vợ con; Tiền án; tiền sự: không; Bị cáo bị bắt tại biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 21/02/2024, tạm giữ ngày 22/02/2024, chuyển sang tạm giam ngày 01/3/2024 cho đến nay; có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nhận được tin báo của quần chúng nhân dân có 01 đối tượng đang di chuyển tại khu phố A, thị trấn T, huyện A, tỉnh Kiên Giang, có biểu hiện nghi vấn phạm tội về ma túy, lực lượng Công an huyện A kết hợp với Công an thị trấn T tiến hành dừng xe của đối tượng để kiểm tra. Qua kiểm tra phát hiện Nguyễn Văn M cất giấu trong túi quần jean bên trái M đang mặc 01 (một) gói nylon được hàn kín 02 đầu, bên trong có chứa nhiều hạt tinh thể màu trắng không đồng nhất nghi là ma túy. Tiến hành tạm giữ người và tang vật đưa về Cơ quan Công an để điều tra làm rõ. Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn M thừa nhận tang vật bị Cơ quan điều tra thu giữ là ma túy đá mua về để sử dụng.
Tại Cơ quan điều tra, bị can Nguyễn Văn M khai nhận: Vào khoảng 20 giờ ngày 21/02/2024, bị can M điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Blade màu đen biển kiểm soát 68M1 - 493.32 đến nhà của Huỳnh Tuấn C1 (C) ở ấp A Chợ, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang để mua ma túy vì M có nghe nói là C1 có bán ma túy. Khi đến nhà của C1 thì có một người thanh niên đi từ trong nhà ra ngoài lộ, M nghĩ là đàn em của C1 nên hỏi mua 1.000.000đ (một triệu đồng) tiền ma túy đá, người thanh niên đó đưa cho M một gói ma túy đá và M trả số tiền 1.000.000đ (một triệu đồng). Sau đó, M điều khiển xe đến nhà trọ M1 (Anh S) thuộc khu phố A, thị trấn T, huyện A, tỉnh Kiên Giang để sử dụng ma túy thì bị bắt quả tang.
Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện A đã tạm giữ số vật chứng gồm:
- - 01 (một) gói nylon trong suốt hàn kín bên trong có chứa nhiều hạt tinh thể không đồng nhất nghi là ma túy.
- - 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Blade, màu đen, biển kiểm soát 68M1 - 493.32, đã qua sử dụng.
Tại Kết luận giám định số: 165/KL-KTHS ngày 27/02/2024 của Phòng K Công an tỉnh K kết luận: Các hạt tinh thể màu trắng không đồng nhất chứa trong 01 (một) gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 0,5667 gam.
Tại Cáo trạng số 45/CT-VKS-AM ngày 24-6-2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang truy tố Nguyễn Văn Mạnh về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 149 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa,
- - Kiểm sát viên kết luận bị cáo Nguyễn Văn M phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù. Về vật chứng: tịch thu tiêu hủy theo quy định.
- - Bị cáo trình bày: Bị cáo Nguyễn Văn M thừa nhận đã thực hiện hành vi vi phạm đúng như cáo trạng và luận tội của Viện kiểm sát đã nêu, không đối đáp, tranh luận gì. Trong lời nói sau cùng bị cáo trình bày đã biết lỗi, rất hối hận về hành vi của bản thân đã thực hiện, xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện A, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện A, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện cơ bản đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
[2] Về hành vi phạm tội, tội danh:
[2.1] Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai và những tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, từ đó có đủ căn cứ để kết luận: Vào khoảng 21 giờ 45 phút ngày 21/02/2024, tại khu phố A, thị trấn T, huyện A, Kiên Giang, Công an phát hiện và bắt quả tang Nguyễn Văn M có hành vi cất giấu ma túy trong túi quần jeans bên trái M đang mặc trên người, kết quả điều tra xác định số ma túy trên là do M mua về để sử dụng. Theo Kết luận giám định chất ma túy mà M tàng trữ là loại Methamphetamine, có khối lượng là 0,5667 gam.
[2.2] Hành vi của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý đặc biệt của Nhà nước đối với ma túy và các chất gây nghiện khác; khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự; nhận thức rõ ma túy là chất quản lý đặc biệt nhưng đã tàng trữ trái phép là phạm tội với lỗi cố ý; mục đích tàng trữ ma túy của bị cáo là để sử dụng, không nhằm để mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy; loại ma túy bị cáo tàng trữ là Methamphetamine có khối lượng 0,5667 gam. Do đó, Viện kiểm sát truy tố và kết luận bị cáo Nguyễn Văn M phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Về hình phạt:
[3.1] Về tình tiết tăng nặng, tính chất của vụ án: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng hành vi phạm tội là nguy hiểm cho xã hội, gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội ở địa phương, là nguyên nhân làm gia tăng các tệ nạn xã hội khác và bất bình trong nhân dân. Bị cáo biết rõ tác hại của ma túy cũng như hậu quả và những hệ lụy của việc sử dụng chất ma túy để lại đối với sức khỏe, kinh tế của bản thân người sử dụng, gia đình và xã hội nhưng vẫn thực hiện. Do đó, cần phải xử phạt bị cáo thật nghiêm để có thời gian giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội.
[3.2] Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, thể hiện thái độ ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
[3.3] Về quyết định hình phạt, HĐXX thấy rằng bị cáo đã phạm tội nghiêm trọng có khung hình phạt từ 01 đến 05 năm tù, làm phức tạp thêm tình hình tệ nạn ma túy, gây bất ổn và gây dư luận không tốt ở địa phương nên cần phải áp dụng Điều 38 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo bằng hình phạt tù có thời hạn nhằm cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, buộc chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn nhất định là phù hợp với hành vi, tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo. Thấy bị cáo mới phạm tội lần đầu nên chỉ cần xử phạt ở mức thấp của khung hình phạt là phù hợp, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra, HĐXX nhận thấy lẽ ra áp dụng hình phạt bổ sung để tăng tính răn đe. Tuy nhiên, nhận thấy bị cáo có thu nhập thấp, không ổn định, phải thi hành hình phạt tù khó đảm bảo khả năng thi hành án nên không áp dụng đối với bị cáo.
[5] Về vật chứng, đối với số ma túy là vật cấm tàng trữ nên tịch thu tiêu hủy theo điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda biển kiểm soát 68M1-493.32 (hiện Công an đang quản lý) được giao trả lại cho bị cáo.
[6] Về án phí, bị cáo Nguyễn Văn M chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[7] Đối với người bán ma túy cho bị cáo hiện chưa làm rõ được lai lịch nhân thân, chưa làm việc được nên chưa xử lý trong vụ án này là phù hợp. Đề nghị Viện kiểm sát, cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, xử lý theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn M phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
1.1- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính kể từ ngày bị bắt tại biên bản bắt người phạm tội quả tang (ngày 21/02/2024).
1.2- Về hình phạt bổ sung: Miễn áp dụng.
2- Về biện pháp tư pháp: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì có ký hiệu vụ số: 160/2024, có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hoàng N, người chứng kiến niêm phong Đặng Hoàng O và hình dấu tròn của Phòng K - Công an tỉnh K (bên trong chứa 0,5405 gam Methamphetamine đựng trong gói nylon và bao gói đựng mẫu) (hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Minh đang quản lý theo Quyết định chuyển vật chứng số 21/QĐ-VKS-AM ngày 26-4-2024 của VKSND huyện An Minh).
3- Về án phí, căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, bị cáo Nguyễn Văn M chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4- Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 18-7-2024)./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA Lê Chí Công |
Bản án số 65/2024/HS-ST ngày 18/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 65/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn M Tàng trữ trái phép chất ma túy
