|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
Bản án số: 65/2024/HS-ST
Ngày 17 – 7 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Tuấn Phan
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Sở;
Bà Lê Thị Đông.
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Trần Vy –Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Thạch Quanh Thây - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 62/2024/TLST-HS ngày 31 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 74/2024/QĐXXST-HS, ngày 02 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
- Nguyễn Bằng C, sinh năm 1999 tại Long An.
Nơi cư trú: Số G, ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: công nhân; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn P và bà Phạm Thị T. Bị cáo chưa có vợ, con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 18/3/2024 cho đến nay tại Nhà tạm giữ - Công an thành phố T (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Nguyễn Nhật Thành D, sinh năm 1998; Địa chỉ: Số A, ấp F, xã T, huyện T, tỉnh Long An (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 07/01/2024, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Nguyễn Bằng C mượn điện thoại của Nguyễn Nhật Thành D để điện cho bạn, sau đó tiếp tục dùng điện thoại của D liên hệ một người phụ nữ tên T1 (không rõ nhân thân, lai lịch) để mua ma túy với số tiền 600.000đ. T1 đồng ý bán và hẹn giao tại vòng xoay phường E, thành phố T. Sau khi thỏa thuận mua ma túy xong, C điều khiển xe môtô biển số 62U1 - 7054 chở D đi đến nơi hẹn thì dừng xe lại, khoảng 40 phút sau thì T1 đi từ hướng T đi ra và đưa cho C 01 gói nylon màu trắng bên trong chứa chất ma túy, bị cáo đưa tiền 600.000đ cho T1, quá trình bị cáo đưa tiền cho T1 thì D không biết đó là tiền mua ma túy. Sau khi lấy chất ma túy xong thì bị cáo cầm gói ma túy trong lòng bàn tay trái rồi điều khiển xe môtô chở D đi, khi đi đến ngã ba chốt đèn đường Q và đường N, Phường F, thành phố T thì bị lực lượng Công an ra hiệu dừng xe để kiểm tra, do sợ bị phát hiện nên C vứt gói ma túy xuống mặt đường và tiếp tục chạy một đoạn thì bị lực lượng Công an chặn lại. Qua kiểm tra lực lượng công an phát hiện 01 gói ma túy cách chỗ dừng xe khoảng 20 mét. Lực lượng Công an lập biên bản thu giữ và niêm phong toàn bộ tang vật. Khi làm việc với Cơ quan điều tra vào ngày 07/01/2024, Nguyễn Bằng C không thừa nhận gói nylon chứa chất ma túy là của bị cáo. Do đó Cơ quan điều tra đã tiến hành thu thập mẫu tóc của bị cáo và mẫu tóc của D để giám định ADN nhằm xác định chủ sở hữu của gói nylon chứa chất ma túy đã thu giữ. Sau khi có kết luận giám định số: 671/KL-KTHS ngày 23/02/2024 của Phân viện KHHS tại TP . – Bộ C1 xác định có dấu vết ADN của bị cáo trên gói nylon chứa chất ma túy đã thu giữ bị cáo mới thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Trong vụ án này bị cáo thực hiện một mình, không có bàn bạc trao đổi trước với người khác khi thực hiện hành vi phạm tội.
Vật chứng thu giữ:
- 01 gói nylon màu trắng có rãnh khép bên trong chứa tinh thể màu trắng được niêm phong, có chữ viết và chữ ký của Nguyễn Bằng C, Nguyễn Nhật Thành D, Đỗ Đăng H và Đoàn Văn H1.
- 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại SIRIUS, màu đen - đỏ, biển số: 62U1-7054.
Tại bản kết luận giám định số: 669/KL-KTHS ngày 06/02/2024 của Phân viện KHHS tại TP - Bộ C1 xác định: Tinh thể rắn màu trắng đựng trong 01 túi nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 1,1761 gam, loại: Methamphetamine.
Cáo trạng số 66/CT-VKSTA ngày 31/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An truy tố bị cáo Nguyễn Bằng C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Bằng C khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu; bị cáo không có ý kiến thắc mắc, khiếu nại về kết luận giám định và không có khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng đã truy tố bị cáo về tội danh và điều luật, đồng thời phân tích đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Bằng C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, về hình phạt chính:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Bằng C từ 01 năm đến 02 năm tù.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với xe môtô nhãn hiệu YAMAHA, loại: SIRIUS, màu đen - đỏ, biển số: 62U1-7054, qua điều tra xác định là tài sản của ông Nguyễn Văn P là cha ruột của bị cáo C. Khi bị cáo C sử dụng xe môtô đi mua chất ma túy thì ông P không biết. Cơ quan CSĐT đã ra quyết định xử lý vật chứng và trả lại cho ông Nguyễn Văn P.
- Đối với 01 túi nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 1,1761 gam, loại: Methamphetamine, đã sử dụng hết cho công tác giám định.
Buộc bị cáo Nguyễn Bằng C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo biết mình sai và hối hận với hành vi phạm tội của mình, đề nghị hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan CSĐT Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng được thực hiện hợp pháp.
[2] Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác, phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An, phù hợp với sơ đồ hiện trường, bản ảnh hiện trường, biên bản sự việc, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 22 giờ 20 phút ngày 07/01/2024 tại ngã ba chốt đèn đường Q và đường N, Phường F, thành phố T lực lượng Công an kiểm tra phát hiện bắt quả tang Nguyễn Bằng C có hành vi tàng trữ trái phép 01 gói nylon chứa chất ma túy có khối lượng 1,1761 gam, loại: Methamphetamin. Do đó, đủ cơ sở để kết luận hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Bằng C đủ yếu tố cấu thành tội “tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An truy tố bị cáo theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội và có căn cứ pháp luật.
[3] Xét, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình chính trị tại địa phương. Ma túy là hiểm họa của con người, cộng đồng và xã hội, là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm nguy hiểm khác. Bị cáo ý thức được hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn tàng trữ để sử dụng điều này thể hiện ý thức coi thường pháp luật của bị cáo, vì vậy cần phải xử phạt bị cáo một mức án nghiêm khắc mới tương xứng với hành vi phạm tội, cách ly khỏi xã hội một thời gian đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.
[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tính tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015. Bị cáo có ông nội là liệt sỹ là tình tiết giảm nhẹ quy định khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;
[5] Tại phiên tòa Kiểm sát viên đề nghị xử phạt bị cáo mức án từ 01 năm đến 02 năm tù, Hội đồng xét xử xét thấy mức án mà Kiểm sát viên đề nghị là phù hợp nên chấp nhận.
[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo tàng trữ ma túy nhằm mục đích để sử dụng, thỏa mãn nhu cầu cá nhân, không nhằm mục đích thu lợi bất chính nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[7] Về xử lý vật chứng:
[7.1] Đối với xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại: SIRIUS, màu đen - đỏ, biển số: 62U1-7054, qua điều tra xác định là tài sản của ông Nguyễn Văn P là cha ruột của bị cáo. Khi bị cáo sử dụng xe môtô đi mua chất ma túy thì ông P không biết. Cơ quan CSĐT đã ra quyết định xử lý vật chứng và trả lại cho ông Nguyễn Văn P là phù hợp nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7.2] Đối với 01 túi nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 1,1761 gam, loại: Methamphetamine, đã sử dụng hết cho công tác giám định nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[8] Đối với người phụ nữ tên T1 đã bán ma túy cho bị cáo do chưa xác định được tên tuổi, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T, tỉnh Long An tiếp tục xác minh, truy tìm xử lý sau là phú hợp.
[9] Đối với Nguyễn Nhật Thành D qua điều tra xác định việc cấp cất giữ gói ma túy D không biết nên không có căn cứ xem xét trách nhiệm hình sự đối với D là phù hợp.
[10] Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Bằng C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Bằng C 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 18/3/2024.
- Áp dụng khoản 1 Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Tiếp tục tạm giam bị cáo Nguyễn Bằng C 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (17/7/2024) để đảm bảo cho việc thi hành án.
- Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa. Buộc bị cáo Nguyễn Bằng C phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo xét xử phúc thẩm trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi Nhận :
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Tuấn Phan |
Bản án số 65/2024/HS-ST ngày 17/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN, TỈNH LONG AN về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 65/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN, TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Bằng C phạm tội "tàng trữ trái phép chất ma túy"
