Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂN PHÚ ĐÔNG

TỈNH TIỀN GIANG

Bản án số: 65/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 17/5/2024
V/v tranh chấp: “Xin ly hôn”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ ĐÔNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoàng Nhi.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Tuyết Dung
2. Ông Nguyễn Đức Tân
- Thư ký phiên tòa: Bà Phùng Anh Thy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang.
- Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú Đông, tham gia phiên tòa:
Ông Đoàn Khắc Huy - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phú Đông xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 193/20233/TLST-HNGĐ, ngày 15 tháng 12 năm 2023, về việc tranh chấp: “Xin ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 01/4/2024, Quyết định Hoãn phiên tòa số 49/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 19/4/2024; giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Võ Thị V, sinh năm 1990
Địa chỉ: Ấp G, xã P, huyện Đ, tỉnh Tiền Giang.
- Bị đơn: Anh Trần Quốc T, sinh năm 1983
Địa chỉ: Ấp G, xã P, huyện Đ, tỉnh Tiền Giang.
(Chị V xin vắng mặt, anh T vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai, biên bản hòa giải nguyên đơn chị Võ Thị V trình bày:

Chị Võ Thị V và ông Trần Quốc T tự nguyện tiến đến hôn nhân. Tổ chức cưới và có đăng ký kết hôn ngày 02/6/2010, tại ủy ban nhân dân xã P.

Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc đến tháng 02/2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do ông Trần Quốc T thường xuyên uống rượu, không lo làm ăn nên vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Đến năm 2023, vợ chồng sống ly thân đến nay. Thời gian sống ly thân, vợ chồng có trao đổi nhưng không hàn gắn được tình cảm.

1

Chị Võ Thị V cho rằng tình cảm vợ chồng không còn nên xin ly hôn với anh Trần Quốc T.

Vợ chồng có 03 con chung tên Trần Ngọc D sinh ngày 25/4/2025, Trần Quốc V sinh ngày 23/12/2006 và Trần Thanh L sinh ngày 17/5/2017. Đến nay, Trần Ngọc D đã trên 18 tuổi, không yêu cầu giải quyết. Riêng Trần Quốc V và Trần Thanh L Hiện đang sống với chị Võ Thị V. Ly hôn, chị Võ Thị V yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu ông Trần Quốc T cấp dưỡng nuôi con.

Tài sản chung, nợ chung: Không có.

* Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng như: Thông báo thụ lý, thông báo phiên hợp giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa cho ông Trần Quốc T hợp lệ. Nhưng ông Trần Quốc T không đến Tòa án cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu ly hôn và nuôi con của chị Võ Thị V.

* Ý kiến của kiểm sát viên:

- Về thẩm quyền thụ lý, việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong giai đoạn chuẩn bị xét xử như: Thu thập chứng cứ, tống đạt văn bản tố tụng, thời hạn chuẩn bị xét xử,...; việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, thư ký; việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng; tất cả thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 51, 56, 57, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH.14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án. Đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Võ Thị V. Cho chị V được ly hôn với ông Trần Quốc T. Con chung tên Trần Ngọc D đã trên 18 tuổi, không yêu cầu giải quyết. Giao 02 con tên Trần Quốc V và Trần Thanh L Hiện cho chị V tiếp tục nuôi. Chị V không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật, phạm vi khởi kiện

Chị Võ Thị V xin ly hôn với ông Trần Quốc T nên đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình theo qui định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân huyện Tân Phú Đông theo khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Ngày 18/3/2024, chị Võ Thị V gửi đơn xin vắng mặt trong thời gian giải quyết vụ án. Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1, 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 xét xử vụ án vắng mặt chị Võ Thị V và ông Trần Quốc T.

2

[2] Về nội dung vụ kiện

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Võ Thị V và ông T tiến đến hôn nhân có đăng ký kết hôn ngày 02/6/2010, tại ủy ban nhân dân xã P nên quan hệ hôn nhân giữa chị Võ Thị V và ông Trần Quốc T được pháp luật công nhận. Nay chị Võ Thị V xin ly hôn nên áp dụng Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 để giải quyết. Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai, biên bản hòa giải chị Võ Thị V trình bày, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn vào tháng 2/2020 do ông Trần Quốc T thường xuyên uống rượu, không lo làm ăn. Vợ chồng sống ly thân từ năm 2023 đến nay. Thời gian sống ly thân, không hàn gắn tình cảm được. Xét thấy: Tòa án đã tổ chức phiên hòa giải là tạo điều cho chị Võ Thị V và ông T gặp nhau để trao đổi, hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng ông Trần Quốc T vẫn không đến, chứng tỏ ông Trần Quốc T không muốn hàn gắn tình cảm để đoàn tụ gia đình. Do đó, cho thấy mâu thuẫn giữa vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Võ Thị V.

[2.2] Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung tên Trần Ngọc D, Trần Quốc V và Trần Thanh L. Riêng Trần Ngọc D đã trên 18 tuổi, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Trần Quốc V và Trần Thanh L Hiện đang sống với chị Võ Thị V. Ly hôn, chị Võ Thị V yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, theo “BẢN TỰ KHAI” ngày 22/01/2024, Trần Quốc V có nguyện vọng sống với chị V sau khi cha mẹ ly hôn. Do đó, để đảm bảo điều kiện tốt nhất và ổn định cuộc sống cho Trần Quốc V và Trần Thanh L nên giao cho chị Võ Thị V tiếp tục nuôi dưỡng Trần Quốc V và Trần Thanh L. Chị Võ Thị V không yêu cầu ông Trần Quốc T cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.

[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

[3] Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên phù hợp quy định pháp luật nên chấp nhận.

[3] Về án phí:

- Chị Võ Thị V phải nộp án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật. Ông Trần Quốc T không nộp án phí sơ thẩm.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Điều luật áp dụng:

Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

- Điều 5; khoản 1 Điều 28; khoản 4 Điều 147, khoản 1, 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

3

- Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH.14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân:
    • - Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Võ Thị V.
    • - Chị Võ Thị V được ly hôn với ông Trần Quốc T.
  2. Về con chung:
    • - Trần Ngọc D đã trên 18 tuổi. Chị Võ Thị V không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
    • - Trần Quốc V và Trần Thanh L hiện nay đang sống với chị Võ Thị V. Ly hôn, chị Võ Thị V yêu cầu được tiếp tục nuôi 02 con, không yêu cầu ông Trần Quốc T cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.
  3. Về án phí:
    • - Chị Võ Thị V có nghĩa vụ nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, theo biên lai số 0001547, ngày 15/12/2023, của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Tân Phú Đông. Như vậy, chị Võ Thị V đã nộp xong án phí.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án dân sự, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án tống đạt bản án hợp lệ, các đương sự có quyền kháng cáo đến Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang để yêu cầu xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - VKS ND H.Tân Phú Đông;
  • - Chi cục THA DS H.Tân Phú Đông;
  • - UBND xã P;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS, AV.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

NGUYỄN THỊ HOÀNG NHI

4

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 65/2024/HNGĐ-ST ngày 17/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ ĐÔNG, TỈNH TIỀN GIANG về xin ly hôn

  • Số bản án: 65/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ ĐÔNG, TỈNH TIỀN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị V yêu cầu ly hôn với anh T
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger