Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN GÒ CÔNG ĐÔNG

TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 65/2024/HS-ST

Ngày: 15/8/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ CÔNG ĐÔNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Lê Ngọc Duy Linh.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Huỳnh Thị Tỏ.
  2. Ông Nguyễn Văn Tâm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Hồ Hải Hương - Thư ký Toà án nhân dân huyện Gò Công Đông.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên toà: Ông Phan Minh Tân - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 55/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 68/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:

Trần Trọng N, sinh ngày: 24/3/2001, nơi sinh: Tiền Giang; Số thẻ căn cước công dân: [...], cấp ngày: 02/7/2021 nơi cấp Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội - Bộ C; nơi cư trú: ấp F, xã T, huyện G, tỉnh Tiền Giang; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 07/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trần Thanh T, sinh năm 1979 và Võ Thị T1, sinh năm 1979; Vợ: Bùi Thị Kim N1, sinh năm 2000; có 01 con sinh năm 2024;

Tiền án: Không.

Tiền sự: Ngày 25/4/2023, bị Công an xã T, thị xã G (N là thành phố G), tỉnh Tiền Giang xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng theo Quyết định số 986/QĐ-XPHC (Bị cáo Trần Trọng N đã chấp hành đóng phạt xong ngày 11/5/2023. Tính đến thời điểm bị cáo thực hiện hành vi phạm tội là ngày 16/01/2024 thì bị cáo N không được xem như chưa bị xử lý vi phạm hành chính theo Điều 7 Luật Xử lý vi phạm hành chính).

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Trần Trọng T2, sinh năm 1988 (Có mặt);
  2. Địa chỉ: ấp F, xã T, huyện G, Tiền Giang.

  3. Anh Trần Tấn N2, sinh năm 1983 (Có mặt);
  4. Địa chỉ: ấp F, xã T, huyện G, Tiền Giang.

  5. Anh Đỗ Thế S (H), sinh năm 1990 (Có mặt);
  6. Địa chỉ: ấp F, xã T, huyện G, Tiền Giang.

  7. Ông Trần Văn H1, sinh năm 1966 (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
  8. Địa chỉ: ấp F, xã T, huyện G, Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ ngày 16/01/2024, bị cáo Trần Trọng N đã cùng với anh Trần Tấn N2, anh Đỗ Thế S, anh Trần Trọng T2 đến một ngôi nhà hoang tại ấp F, xã T, huyện G, tỉnh Tiền Giang để chơi và nói chuyện. Khi đến nơi thì có sẵn một bộ cờ cá ngựa, nên bị cáo N đã cùng với anh N2, anh S, anh T2 cùng rủ nhau chơi cờ cá ngựa ăn thua bằng tiền và mua nước uống với hình thức là nếu ai đá được ngựa của đối phương thì thắng của người bị đá số tiền 5.000 (Năm nghìn) đồng, còn nếu về chuồng được một con ngựa thì thắng của những người còn lại mỗi người số tiền 10.000 (Mười nghìn) đồng. Anh N2 chơi cờ màu vàng, anh S chơi cờ màu đỏ, anh T2 chơi cờ màu xanh lá, bị cáo N chơi cờ màu xanh dương. Đến 15 giờ cùng ngày, chơi được 03 ván thì Công an xã T, huyện G, tỉnh Tiền Giang phối hợp với Đồn Biên phòng K tuần tra kiểm soát tại ấp F, xã T, huyện G, tỉnh Tiền Giang bắt quả tang. Bị cáo N đã cùng với anh N2, anh S, anh T2 đã thực hiện hành vi đánh bạc với số tiền cụ thể như sau:

Bị cáo N sử dụng số tiền 250.000 (Hai trăm năm mươi nghìn) đồng để chơi cờ cá ngựa ăn thua bằng tiền và thua hết số tiền này, bị cáo N không nhớ rõ số tiền ăn thua của từng ván.

Anh T2 sử dụng số tiền 250.000 (Hai trăm năm mươi nghìn) đồng để chơi cờ cá ngựa ăn thua bằng tiền. Khi lực lượng Công an vào tại chỗ ngồi của anh T2 có 420.000 (Bốn trăm hai mươi nghìn) đồng, trong đó có 250.000 (Hai trăm năm mươi nghìn) đồng là tiền vốn ban đầu và 170.000 (Một trăm bảy mươi nghìn) đồng là số tiền ăn được còn cụ thể từng ván ăn thua như thế nào thì T2 không nhớ rõ.

Anh N2 sử dụng số tiền 175.000 (Một trăm bảy mươi lăm nghìn) đồng để chơi cờ cá ngựa ăn thua bằng tiền. Khi lực lượng Công an vào tại chỗ ngồi của anh N2 có 95.000 (Chín mươi lăm nghìn) đồng, anh N2 thua 80.000 (Tám mươi nghìn) đồng còn cụ thể từng ván ăn thua như thế nào thì T2 không nhớ rõ.

Anh S đem theo số tiền 800.000 (T3 trăm nghìn) đồng trong người, anh S sử dụng 100.000 (Một trăm nghìn) đồng từ số tiền 800.000 đồng (T3 trăm nghìn) đồng để chơi cờ cá ngựa ăn thua bằng tiền, sau khi chơi ván đầu tiên anh S ăn nên mới bỏ 100.000 (Một trăm nghìn) đồng vào túi lại. Khi lực lượng Công an vào tại chỗ ngồi của anh S có 160.000 (Một trăm sáu mươi nghìn) đồng, đây là số tiền anh S ăn được còn cụ thể từng ván ăn thua như thế nào thì S không nhớ rõ.

Vật chứng thu giữ gồm:

  • 01 (một) xe mô tô hai bánh biển số 63X9-9428, loại xe Wave màu xanh, số máy 1287184, số khung 086705 (tạm giữ của Trần Trọng T2 do Trần Văn H1, sinh năm 1966, cư trú ấp F, xã T, huyện G, tỉnh Tiền Giang đứng tên đăng ký xe);
  • 01 (một) xe mô tô hai bánh biển số 63B7-704.93, loại xe Wave màu đỏ, số máy 2687723, số khung 181753 (tạm giữ của Trần Trọng N do Trần Trọng N đứng tên đăng ký xe);
  • 01 (một) điện thoại hiệu Oppo A57, màu xanh (tạm giữ của Trần Trọng T2);
  • 01 (một) điện thoại hiệu Oppo Reno 6Z5G, màu đen (tạm giữ của Trần Trọng N);
  • 01 (một) điện thoại hiệu S1 A12, màu đen (tạm giữ của Đỗ Thế S);
  • 01 (một) bộ cờ cá ngựa;
  • Tiền Việt Nam: 1.475.000 (Một triệu bốn trăm bảy mươi lăm nghìn) đồng. Trong đó: Tiền thu trên chiếu bạc là 675.000 (Sáu trăm bảy mươi lăm nghìn) đồng, cụ thể: Tại vị trí ngồi của Trần Trọng T2 là 420.000 (Bốn trăm hai mươi nghìn) đồng, tại vị trí ngồi của Đỗ Thế S là 160.000 (Một trăm sáu mươi nghìn) đồng, tại vị trí ngồi của Trần Tấn N2 là 95.000 (Chín mươi lăm nghìn) đồng và tiền trên người Đỗ Thế S là 800.000 (Tám trăm nghìn) đồng.

Tại Cáo trạng số 54/CT-VKS.GCĐ ngày 24/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Đ truy tố bị cáo Trần Trọng N về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo Trần Trọng N khai nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Đông đã truy tố, không tranh luận với nội dung luận tội của Đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo xin nhận lại 01 (một) xe mô tô hai bánh biển số 63B7-704.93, loại xe Wave màu đỏ, số máy 2687723, số khung 181753 và 01 (một) điện thoại Oppo Reno, màu đen do đây là tài sản của bị cáo, không liên quan đến việc đánh bạc mà Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu giữ của bị cáo.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Trần Trọng T2 trình bày: Anh thống nhất với Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Đông đã truy tố, không tranh luận với nội dung luận tội của Đại diện Viện kiểm sát, anh không có ý kiến, yêu cầu gì về vật chứng hay trách nhiệm dân sự.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Trần Trọng N3 trình bày: Anh thống nhất với Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Đông đã truy tố, không tranh luận với nội dung luận tội của Đại diện Viện kiểm sát, anh không có ý kiến, yêu cầu gì về vật chứng hay trách nhiệm dân sự.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Đỗ Thế S trình bày: Anh thống nhất với Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Đông đã truy tố, không tranh luận với nội dung luận tội của Đại diện Viện kiểm sát, tôi không có ý kiến, yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự. Anh xin được nhận lại số tiền 700.000 (Bảy trăm ngàn) đồng mà Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu giữ của anh đây là số tiền của anh, không dùng để sử dụng đánh bạc và không liên quan đến việc đánh bạc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Đông giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm như đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:

+ Tuyên bố bị cáo Trần Trọng N phạm tội “Đánh bạc”.

+ Về hình phạt:

Căn cứ tại khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 65 của Bộ luật Hình sự;

Nghị quyết 02/2018/NQ – HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;

Xử phạt bị cáo Trần Trọng Nhân từ 09 (Chín) tháng đến 12 (Mười hai) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Trần Trọng N cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện G, tỉnh Tiền Giang để giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

+ Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự

Trả lại cho bị cáo Trần Trọng N:

  • 01 (một) xe mô tô hai bánh biển số 63B7-704.93, loại xe Wave màu đỏ, số máy 2687723, số khung 181753;
  • 01 (một) điện thoại hiệu Oppo Reno, màu đen, không kiểm tra bên trong, được niêm phong trong một bì thư có chữ ký ghi tên Trần Trọng N, Nguyễn Hoài Â, chữ ký in tên Đại úy Nguyễn Duy T4 và 02 hình dấu tròn màu đỏ của Công an xã T, Công an huyện G, tỉnh Tiền Giang;

Trả lại cho anh Đỗ Thế S số tiền 700.000 (Bảy trăm nghìn) đồng.

Tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền 775.000 (Bảy trăm bảy mươi lăm nghìn) đồng, bao gồm số tiền 675.000 (Sáu trăm bảy mươi lăm nghìn) đồng thu trên chiếu bạc và 100.000 (Một trăm nghìn) đồng thu trên người Đỗ Thế S.

Tịch thu, tiêu hủy đối với 01 (một) bộ cờ cá ngựa;

+ Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan điều tra, truy tố trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

[2]. Tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn H1 có đơn xin xét xử vắng mặt. Xét thấy, trong hồ sơ vụ án đã có lời khai của ông H1 về những vấn đề liên quan, ông đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu về trách nhiệm dân sự, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Trần Tấn N2, anh Đỗ Thế S, anh Trần Trọng T2, Đại diện Viện kiểm sát cũng không có ý kiến gì về việc vắng mặt của ông Trần Văn H1 nên Hội đồng xét xử căn cứ vào quy định tại khoản 1 Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[3]. Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, biên bản hiện trường và những tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Hành vi của bị cáo Trần Trọng N thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự. Tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự quy định:

“Điều 321. Tội đánh bạc

1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

...”

Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Đông truy tố bị cáo với tội danh và điều luật nêu trên là có cơ sở.

[4]. Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo: Hội đồng xét xử nhận thấy bị cáo là người trưởng thành, có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi đánh bạc dưới hình thức “Chơi cờ cá ngựa” ăn thua bằng tiền là việc làm trái pháp luật không được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép. Hành vi của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm trật tự trị an tại địa phương cũng như gây ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội do tệ nạn cờ bạc gây ra. Tuy nhiên, vì hám lợi, muốn có tiền dễ dàng, thu lợi bất chính một cách nhanh chóng nên bị cáo đã thực hiện tội phạm. Qua đó, cũng thấy được ý thức xem thường và bất chấp pháp luật của bị cáo nên cần phải có một mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo để răn đe, đồng thời phòng ngừa chung trong xã hội.

[5]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Trần Trọng N không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[6]. Về hình phạt: Bị cáo Trần Trọng N có nơi cư trú rõ ràng, không có tình tiết tăng nặng, có 02 tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Đông áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự, Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo, Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao cho bị cáo được hưởng án treo thể hiện tính nhân đạo của pháp luật, cũng đủ tác dụng giáo dục và răn đe đối với bị cáo để trở thành người có ích cho xã hội.

[7]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự, bị cáo còn có thể bị phạt tiền nhưng xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt này đối với bị cáo.

[8]. Về trách nhiệm dân sự:

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Trần Trọng T2, anh Trần Tấn N2, anh Đỗ Thế S, ông Trần Văn H1 trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử các đương sự nêu trên không có ý kiến, yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[9]. Về xử lý vật chứng: Trong quá trình điều tra Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện G đã giao trả lại:

  • Ông Trần Văn H1: 01 (một) xe mô tô hai bánh biển số 63X9-9428, loại xe Wave màu xanh, số máy 1287184, số khung 086705;
  • Anh Trần Trọng T2: 01 (một) điện thoại hiệu Oppo, màu xanh da trời, không kiểm tra bên trong, được niêm phong trong một bì thư có chữ ký ghi tên Trần Trọng T2, Nguyễn Hoài Â, chữ ký in tên Đại úy Nguyễn Duy T4 và 02 hình dấu tròn màu đỏ của Công an xã T, Công an huyện G, tỉnh Tiền Giang;
  • Anh Đỗ Thế S: 01 (một) điện thoại hiệu Samsung, màu đen, không kiểm tra bên trong, được niêm phong trong một bì thư có chữ ký ghi tên Trần Khoa N4, Nguyễn Quang H2, Nguyễn Ngọc Q và hình dấu đỏ ghi Phòng K1 - Công an tỉnh T.

Hội đồng xét xử xét thấy việc Cơ quan cảnh sát điều tra đã giao trả lại các tài sản nêu trên cho chủ sở hữu là có căn cứ, phù hợp với quy định tại điểm a, b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Trong quá trình điều tra Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện G đã thu giữ các tài sản của bị cáo Trần Trọng N gồm:

  • 01 (một) xe mô tô hai bánh biển số 63B7-704.93, loại xe Wave màu đỏ, số máy 2687723, số khung 181753;
  • 01 (một) điện thoại hiệu Oppo Reno, màu đen, không kiểm tra bên trong, được niêm phong trong một bì thư có chữ ký ghi tên Trần Trọng N, Nguyễn Hoài Â, chữ ký in tên Đại úy Nguyễn Duy T4 và 02 hình dấu tròn màu đỏ của Công an xã T, Công an huyện G, tỉnh Tiền Giang;

Hội đồng xét xử nhận thấy, trong quá trình điều tra, truy tố cũng như qua quá trình tranh tụng tại phiên tòa thì không có căn cứ để xác định bị cáo sử dụng các tài sản nêu trên để làm phương tiện, công cụ thực hiện hành vi phạm tội và tại phiên tòa bị cáo có yêu cầu nhận lại các tài sản nêu trên nên là căn cứ vào quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự giao trả lại cho bị cáo các tài sản nêu trên.

Đối với số tiền Việt Nam: 1.475.000 (Một triệu bốn trăm bảy mươi lăm nghìn) đồng, gồm tiền thu giữ trên chiếu bạc là 675.000 (Sáu trăm bảy mươi lăm nghìn) đồng, tiền thu giữ trên người của anh Đỗ Thế S là 800.000 (Tám trăm nghìn) đồng.

Hội đồng xét xử nhận thấy, trong quá trình điều tra, truy tố cũng như qua quá trình tranh tụng tại phiên tòa và các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ thể hiện số tiền 675.000 (Sáu trăm bảy mươi lăm nghìn) đồng mà Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện G thu giữ là số tiền mà bị cáo Trần Trọng N, anh Trần Trọng T2, anh Trần Tấn N2, anh Đỗ Thế S dùng để thực hiện hành vi đánh bạc và tiền ăn thua từ việc đánh bạc nên căn cứ vào quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự xác định đây là công cụ, phương tiện phạm tội và là tài sản do phạm tội mà có nên cần tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.

Đối với số tiền mà Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện G thu giữ trên người của anh Đỗ Thế S là 800.000 (T3 trăm nghìn) đồng Hội đồng xét xử nhận thấy, trong quá trình điều tra, truy tố cũng như qua quá trình tranh tụng tại phiên tòa và các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ thể hiện, anh S đem theo số tiền 800.000 (T3 trăm nghìn) đồng trong người, anh S sử dụng 100.000 (Một trăm nghìn) đồng từ số tiền 800.000 (Tám trăm nghìn) đồng để chơi cờ cá ngựa ăn thua bằng tiền, sau khi chơi ván đầu tiên anh S ăn nên mới bỏ 100.000 (Một trăm nghìn) đồng vào túi lại và tại phiên tòa anh có yêu cầu nhận lại số tiền 700.000 (Bảy trăm nghìn) đồng mà anh xác định không dùng vào việc đánh bạc nên căn cứ vào quy định tại khoản điểm a, điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xác định số tiền 100.000 (Một trăm nghìn) đồng nằm trong số tiền 800.000 (Tám trăm nghìn) đồng mà mà Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện G thu giữ trên người anh S là tiền anh dùng để đánh bạc đây là công cụ, phương tiện phạm tội và là tài sản do phạm tội mà có nên cần tịch thu, nộp ngân sách nhà nước và không có căn cứ để xác định anh S sử dụng số tiền 700.000 (Bảy trăm nghìn) đồng để làm phương tiện, công cụ thực hiện hành vi phạm tội hay là tài sản do phạm tội mà có nên cần áp dụng quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự giao trả lại cho anh S số tiền nêu trên.

Đối với 01 (một) bộ cờ cá ngựa, Hội đồng xét xử nhận thấy đây là công cụ, phương tiện phạm tội và không có giá trị nên cần tịch thu, tiêu hủy theo quy định tại điểm a, c khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

[11]. Đối với hành vi đánh bạc của anh Trần Tấn N2, anh Đỗ Thế S và anh Trần Trọng T2 chưa đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại Điều 321 Bộ luật hình sự nên ngày 26/6/2024, Công an huyện G đã ban hành các Quyết định số 46, 47, 48 xử phạt vi phạm hành chính mỗi người số tiền 1.500.000 (Một triệu năm trăm nghìn) đồng là phù hợp với quy định của pháp luật.

[11]. Về án phí: Bị cáo phạm tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

[12].Xét thấy đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Đ phù hợp với quy định pháp luật nên được chấp nhận toàn bộ.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Trần Trọng N phạm tội “Đánh bạc”.
  2. Căn cứ khoản 1 Điều 321; Điều 38, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự;

    Điều 2, Điều 4 và Điều 6 Nghị quyết 02/2018/NQ – HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;

    Xử phạt bị cáo Trần Trọng N 09 (Chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 ( Một) năm 06 (Sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    Giao bị cáo Trần Trọng N cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện G, tỉnh tiền G giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo Trần Trọng N thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 và Điều 68 của Luật Thi hành án hình sự.

    “Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án được hưởng án treo”.

  3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
  4. Trả lại cho bị cáo Trần Trọng N:

    • 01 (một) xe mô tô hai bánh biển số 63B7-704.93, loại xe Wave màu đỏ, số máy 2687723, số khung 181753;
    • 01 (một) điện thoại hiệu Oppo Reno, màu đen, không kiểm tra bên trong, được niêm phong trong một bì thư có chữ ký ghi tên Trần Trọng N, Nguyễn Hoài Â, chữ ký in tên Đại úy Nguyễn Duy T4 và 02 hình dấu tròn màu đỏ của Công an xã T, Công an huyện G, tỉnh Tiền Giang;

    Trả lại cho anh Đỗ Thế S là 700.000 (Bảy trăm nghìn) đồng được niêm phong trong túi có các chữ ký Võ Trần Xuân D và Lê Thanh N5.

    Tịch thu, sung quỹ nhà nước số tiền 675.000 (Sáu trăm bảy mươi lăm nghìn) đồng thu trên chiếu bạc và 100.000 (Một trăm nghìn) đồng tiền thu trên người anh Đỗ Thế S được niêm phong trong túi có các chữ ký Võ Trần Xuân D và Lê Thanh N5.

    Tịch thu tiêu hủy đối với: 01 (một) bộ cờ cá ngựa;

    (Theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện G và Chi cục thi hành án dân sự huyện Gò Công Đông)

  5. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
  6. Buộc bị cáo Trần Trọng N phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

  7. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tiền Giang;
  • - VKSND tỉnh Tiền Giang;
  • - VKSND huyện Gò Công Đông;
  • - Cơ quan CSĐT CA huyện Gò Công Đông;
  • - Chi cục THADS huyện Gò Công Đông;
  • - Sở tư pháp tỉnh Tiền Giang;
  • - Nhà tạm giữ CA huyện Gò Công Đông;
  • - UBND xã Tân Phước;
  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Ngọc Duy Linh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 65/2024/HS-ST ngày 15/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ CÔNG ĐÔNG TỈNH TIỀN GIANG về hình sự - đánh bạc

  • Số bản án: 65/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ CÔNG ĐÔNG TỈNH TIỀN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger