Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH QUẢNG TRỊ

Bản án số: 65/2024/HS-ST

Ngày 14 - 8 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Thị Kim Thương

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Văn Thảng;

Ông Nguyễn Xuân Minh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Kim Khánh Duy- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Ông Trần Hữu Lân- Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 8 năm 2024, tại Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 63/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 67/2024/QĐXXST- HS ngày 30 tháng 7 năm 2024, đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Đình S, sinh ngày 01 tháng 9 năm 1981 tại Quảng Trị; nơi cư trú: Khu phố F, Phường E, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đình T (chết) và bà Nguyễn Thị É; vợ Lương Thị X, có 02 con, lớn sinh năm 2006, nhỏ sinh năm 2009; tiền án, tiền sự: Không.

    Nhân thân: Ngày 06/3/2002, Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 17/12/2002.

    Bị bắt tạm giam ngày 02/11/2023, có mặt.

  2. Hoàng Thị Kim C, sinh ngày 09 tháng 7 năm 1985 tại Quảng Bình; nơi cư trú: Tổ dân phố I, phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình; nơi tạm trú: Tiểu khu C, thị trấn Á, huyện T, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Thanh T1 (chết) và bà Nguyễn Thị T2; chồng đã ly hôn Nguyễn H, có 02 con sinh năm 2002 và sinh năm 2006; chồng Đặng Minh P; chung sống như vợ chồng với Nguyễn Thịnh L có 01 con sinh năm 2021; tiền sự: Không; tiền án: 01, ngày 29/01/2021, Tòa án nhân dân huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị xử phạt 04 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 04 năm tù về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”, tổng hợp hình phạt 08 năm tù, được hoãn thi hành án do đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi. Bị bắt tạm giam ngày 01/11/2023, có mặt.
  3. Phan Văn P1, sinh ngày 26 tháng 10 năm 1987 tại Quảng Trị; nơi cư trú: Thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Văn Đ (chết) và bà Lê Thị H1; tiền án, tiền sự: Không. Bị bắt tạm giam ngày 01/11/2023, có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Đình S: Bà Nguyễn Thị O- Luật sư Văn phòng L2, địa chỉ: B H, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Hoàng Thị Kim C: Bà Trần Thị Ly L1, Luật sư Văn phòng L3, địa chỉ: 1 T, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; có mặt

- Người bào chữa cho bị cáo Phan Văn P1: Bà Lê Đỗ Diệu H2- Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Q; có mặt.

- Người làm chứng: Ông Phan Quốc G, địa chỉ: Tiểu khu B, thị trấn Á, huyện T, tỉnh Quảng Trị; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 20 giờ 30 phút ngày 01/11/2023, Tổ công tác Công an thành phố Đ tuần tra kiểm soát tại Kiệt S đường T, khu phố F, Phường E, thành phố Đ, phát hiện Hoàng Thị Kim CPhan Văn P1 có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra hành chính và phát hiện tay phải của C đang cất giấu 02 gói nilon, trong đó có 01 gói màu xanh và 01 gói màu hồng được buộc lại với nhau bằng 02 sợi dây cao su màu đỏ, bên trong gói chứa nhiều viên nén hình trụ tròn màu hồng và màu xanh, trên bề mặt mỗi viên màu hồng đều có chữ WY, khi thu giữ các viên nén trên được niêm phong trong phong bì ký hiệu MT.

C khai nhận mua số ma túy trên của Nguyễn Đình S, trú tại khu phố F, Phường E, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị với giá 5.000.000 đồng nhằm mục đích sử dụng và bán lại kiếm lời.

Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Hoàng Thị Kim CPhan Văn P1 về hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Căn cứ lời khai của Hoàng Thị Kim CPhan Văn P1, vào lúc 15 giờ ngày 02/11/2023, Công an thành phố Đ đã tiến hành giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Đình S. Nguyễn Đình S đã tự nguyện giao nộp 03 túi ni long bên trong chứa nhiều viên nén màu hồng, màu xanh cho lực lượng chức năng. Khi thu giữ các viên nén trên được niêm phong trong phong bì ký hiệu MT1.

Từ khoảng tháng 9/2023, Nguyễn Đình S đã nhiều lần mua ma túy tổng hợp thường gọi là hồng phiến, của một người đàn ông không rõ lai lịch, có tài khoản zalo là “Người âm phủ” chủ động kết bạn và đặt vấn đề bán ma túy cho S. Mỗi lần mua ma túy, S sử dụng tài khoản zalo tên “Nguyễn Đình S” liên lạc qua zalo “Người âm phủ” đặt mua từ 02 gói đến 03 gói (mỗi gói khoảng 200 viên), với giá 2.000.000 đồng/gói. Khi đặt mua xong, có người đưa ma túy đến nhà S ném qua cửa sổ phòng khách để S kiểm đếm, S để tiền ở cửa sổ để người đưa ma túy nhận tiền. S cất giấu ma túy ở nhà rồi bán cho nhiều người, trong đó bán cho Hoàng Thị Kim C với giá bán sỉ 2.500.000 đồng/gói và bán lẻ giá 20.000 đồng đến 25.000 đồng/1 viên.

Đối với Hoàng Thị Kim CPhan Văn P1 có mối quan hệ tình cảm nam nữ và cả hai đều sử dụng ma túy. Từ khoảng tháng 9/2023, qua mối quan hệ xã hội C biết S có bán ma túy thường gọi là hồng phiến nên đã chủ động liên hệ với S để mua. Ban đầu C mua ma túy của S về cất giấu tại khu vực chuồng gà nhà của P1 ở thôn N, xã T, huyện T để cùng P1 sử dụng. Sau đó có nhiều người liên hệ với C để hỏi mua ma túy thì C đã bán cho những người này với giá 30.000 đồng/viên, việc C bán ma túy cho người khác P1 không biết.

Khoảng 11 giờ ngày 28/10/2023, Phan Quốc G, sinh năm 1992, trú tại Tiểu khu A, thị trấn Á, huyện T sử dụng tài khoản Zalo mang tên “Đời Vô Thường” nhắn tin đến Zalo “Buồn Vì Tiền K Vì T2” của C hỏi mua 300.000 đồng. C đồng ý bán cho G 10 viên ma túy, hẹn đến trước nhà P1 để giao. Khoảng 15 phút sau G điều khiển xe mô tô đến trước nhà P1, C đưa ra 10 viên ma túy cho G và nhận 300.000 đồng, số ma túy này G đã sử dụng hết.

Khoảng 17 giờ ngày 01/11/2023, P1 đến phòng trọ của C ở Tiểu khu C, thị trấn Á, huyện T chở C về nhà của P1 chơi. Do hết ma túy để sử dụng nên khoảng 19 giờ cùng ngày, C sử dụng số điện thoại 084639789 gọi đến số 0943553269 của S, hỏi mua 02 gói ma túy hồng phiến (khoảng 400 viên). S đồng ý và liên hệ đến người đàn ông có tài khoản zalo “Người âm phủ” hỏi mua 05 gói ma túy hồng phiến với giá 10.000.000 đồng. Sau đó có 1 người đàn ông đưa 05 gói ma túy đến nhà S và nhận tiền như những lần trước đó. Khoảng 19 giờ 58 phút cùng ngày, S điện thoại cho C đến nhà S để giao dịch mua bán ma túy thì C đồng ý và nhờ P1 chở đến nhà S, P1 nghĩ C nhờ P1 chở đến nhà S mua ma túy để sử dụng như những lần trước đó nên P1 đồng ý và điều khiển xe mô tô Biển kiểm soát 43F1-141.77 chở C đến dừng xe ở trước sân nhà S. C xuống xe đi bộ đến cửa sổ phòng khách rồi gọi S, S đến bên cửa sổ và trao đổi việc mua bán ma túy. C sử dụng số tài khoản mở tại Ngân hàng M1 của C chuyển khoản vào số tài khoản mở tại Ngân hàng M1 của Sáu 5.000.000 đồng. Nhận được tiền, S đưa cho C 02 gói ma túy (khoảng 400 viên). C nhận ma túy, cầm ở tay phải rồi lên xe để P1 chở về nhà của P1. Khoảng 20 giờ 25 phút, khi P1 điều khiển xe đến Kiệt S, đường L, TP Đ Thì bị lực lượng chức năng bắt quả tang và thu giữ số ma túy như đã nêu trên.

* Đồ vật tạm giữ của Hoàng Thị Kim CPhan Văn P1: Các viên nén hình trụ tròn màu hồng, trên bề mặt mỗi viên đều có chữ WY; các mảnh vỡ viên nén màu hồng, màu xanh; 02 sợi dây cao su màu đỏ; 01 túi ni lông màu xanh, trên miệng túi có kẻ chỉ màu đỏ, kích thước (9x7)cm; 01 túi ni lông màu hồng, trên bề mặt có chữ A, kích thước (9x7)cm; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu xám, có gắn sim số thuê bao 0846369789; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, màu tím, có gắn sim số thuê bao 0393629953; Tiền ngân hàng N số tiền 140.000 đồng với nhiều mệnh giá khác nhau (Đã được gửi tại Kho bạc Nhà nước tỉnh Q); 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại NOUVO, màu sơn đen-bạc, biển kiểm soát 43F1-141.77, số khung: RLCN2B560; số máy: 2B56051510.

* Đồ vật tạm giữ khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Đình S:

- 01 túi ni lông trong suốt, kích thước (15x9) cm bên trong chứa nhiều túi ni lông trong suốt trên miệng có kẻ chỉ màu đỏ (không đếm số lượng)

- Tiền ngân hàng N: 1.190.000 đồng (Đã được gửi tại Kho bạc Nhà nước tỉnh Q).

* Đồ vật tạm giữ do Nguyễn Đình S giao nộp: 01 túi ni lông màu hồng, trên bề mặt có chữ A, dạng túi nhíp, kích thước (9x7)cm; 25 viên nén hình trụ tròn màu hồng trên bề mặt mỗi viên có chữ WY; 01 viên nén hình trụ tròn màu xanh bề mặt có chữ A, mặt còn lại có chữ Y1; 01 gói giấy màu trắng bề mặt có chữ A, kích thước (10x3)cm; 01 sợi dây cao su màu đỏ; 01 túi ni lông màu xanh, dạng túi nhíp, kích thước (9x7)cm; 01 viên nén hình trụ tròn màu xanh bề mặt có chữ A, mặt còn lại có chữ Y1; 100 viên nén hình trụ tròn màu hồng trên bề mặt có chữ WY; Các viên nén hình trụ tròn màu hồng trên bề mặt có chữ WY; 01 gói ni lông trong suốt, kích thước (16x9)cm; 02 túi ni lông màu xanh dạng túi nhíp được cuộn trong bằng băng keo màu đen.

* Thu giữ của Nguyễn Đình S: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, màu xanh, gắn sim số thuê bao 0943553269, số I: 866534054683447.

- Bản Kết luận giám định số 1098/KL-KTHS ngày 09/11/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh Q kết luận:

+ Các viên nén hình trụ tròn màu hồng trong phong bì ký hiệu MT gửi đến giám định có khối lượng là 38,9108g là ma túy loại Methamphetamine.

+ Các viên nén hình trụ tròn màu hồng trong hộp giấy ký hiệu MT1 gửi đến giám định có khối lượng là 47,4330g là ma túy loại Methamphetamine.

Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục IIC, STT: 247 Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

+ Các viên nén hình trụ tròn màu xanh trong trong phong bì ký hiệu MT gửi đến giám định có khối lượng là 0,2756g, không tìm thấy chất ma túy.

+ Các viên nén hình trụ tròn màu xanh trong hộp giấy ký hiệu MT1 gửi đến giám định có tổng khối lượng là 0,1464g, không tìm thấy chất ma tuý.

Cáo trạng số: 58/CT-VKSQT-P1 ngày 04/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị truy tố các bị cáo Nguyễn Đình SHoàng Thị Kim C về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 3 Điều 251 Bộ luật hình sự. Phan Văn P1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 3 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo Nguyễn Đình SHoàng Thị Kim C về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Phan Văn P1 về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 3 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với Nguyễn Đình SHoàng Thị Kim C. Bị cáo C còn áp dụng thêm khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 55 và khoản 2 Điều 56 Bộ luật hình sự. Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với Phan Văn P1. Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình S từ 17 đến 18 năm tù; Hoàng Thị Kim C từ 15 năm 06 tháng đến 16 năm tù và Phan Văn P1 từ 10 đến 11 năm tù.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu, tiêu hủy ma túy và bao gói còn lại sau giám định. Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động Iphone màu xám của C; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, màu xanh của S; xe mô tô Yamaha thu giữ của P1 và số tiền 1.330.000 đồng. Trả lại cho P1 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo.

Ý kiến của bị cáo tại phiên tòa: Bị cáo Nguyễn Đình S, Hoàng Thị Kim CPhan Văn P1 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ.

Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Đình S: Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố về tội danh và khung hình phạt đúng quy định pháp luật. Đồng ý áp dụng tình tiết giảm nhẹ như Kiểm sát viên đề xuất, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo tính thành khẩn, tự nguyện giao nộp ma túy khi khám xét khẩn cấp và xử mức thấp của Kiểm sát viên đề nghị.

Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo Hoàng Thị Kim C: Nhất trí về tội danh, khung hình phạt như Cáo trạng truy tố. Đề nghị áp dụng thêm cho bị cáo ở khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự là mẹ bị cáo có công với cách mạng, bị cáo là phụ nữ đang nuôi con nhỏ, xử ở mức 15 năm tù.

Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo Phan Văn P1: Đồng ý tội danh Viện kiểm sát truy tố và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, bố mới mất chưa được 01 năm, mẹ già ở một mình, xử ở mức 10 năm tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Ngày 01/11/2023, Phan Văn P1 chở Hoàng Thị Kim C đến nhà ở của Nguyễn Đình S để lấy ma túy, sau khi lấy được ma túy, P1 chở C đi đến Kiệt S đường T, thành phố Đ thì bị cơ quan chức năng bắt quả tang, thu giữ các viên nén có khối lượng 38,9108 gam là ma túy loại Methamphetamine. Số ma túy này C mua của Nguyễn Đình S với mục đích để sử dụng và bán lại cho người khác kiếm tiền lãi. Ngày 02/11/2023, Nguyễn Đình S bị Cơ quan Công an bắt khẩn cấp, S đã tự nguyện giao nộp 03 túi ni long chứa nhiều viên nén máu hồng, thu giữ các viên nén có khối lượng 47,4330 gam là ma túy loại Methamphetamine. Số ma túy này, S mua của người khác với mục đích bán lại và đã bán cho C 38,9108 gam. Như vậy, hành vi của S mua khối lượng ma túy 86,3438 gam và C mua 38,9108 gam đều nhằm mục đích để bán lại, do đó hành vi của SC phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 3 Điều 251 Bộ luật hình sự, điều luật quy định hình phạt tù từ 15 năm đến 20 năm. Đối với P1, chỉ được C rủ đi lấy ma túy, P1 không biết C mua bán ma túy, do đó hành vi của P1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 3 Điều 249 Bộ luật hình sự, điều luật quy định hình phạt tù từ 10 năm đến 15 năm.

[3] Đối với những đối tượng có liên quan: Phan Quốc G có hành vi mua 10 viên ma túy của Hoàng Thị Kim C ngày 28/10/2023, G đã sử dụng hết, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã chuyển tài liệu liên quan đến Công an thị trấn Á, huyện T, tỉnh Quảng Trị để xử lý vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Người đàn ông bán ma túy cho S, sử dụng mạng Zalo tên “người âm phủ”, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành xác minh nhưng không xác định được lai lịch của người này.

[4] Hành vi phạm tội của các bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền về ma túy của Nhà nước, tệ nạn sử dụng, mua bán trái phép các chất ma túy trong những năm gần đây có xu hướng gia tăng, gây nhiều hậu quả tiêu cực cho xã hội, làm huỷ hoại sức khoẻ, nhân cách, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm, tệ nạn xã hội khác. Do đó, phải xử phạt nghiêm mới đảm bảo tính răn đe.

[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Nguyễn Đình SPhan Văn P1 không có tình tiết tăng nặng. Bị cáo Hoàng Thị Kim C bị Tòa án nhân dân huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị xử phạt 04 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 04 năm tù về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”, là tội phạm rất nghiêm trọng, chưa chấp hành hình phạt tù mà lại phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, nên phải chịu tình tiết tăng nặng “tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ có thái độ thành khẩn khai báo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo C có mẹ là người có công với cách mạng, bị cáo P1 gia đình thuộc hộ cận nghèo nên 02 bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xét vai trò, hành vi của các bị cáo: Đối với SC đều cùng mua bán ma túy với nhau nhưng không có bàn bạc, hứa hẹn trước, S mua bán ma túy với khối lượng lớn, C mua bán khối lượng ít hơn nhưng có nhân thân xấu nên mức hình phạt 2 bị cáo tương đương nhau và xử phạt các bị cáo mức án nghiêm như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 02/2021/HSST ngày 29/01/2021 của Tòa án nhân dân huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị xử phạt Hoàng Thị Kim C 08 năm tù, bản án đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị cáo chưa chấp hành nên tổng hợp hình phạt theo Điều 55, khoản 2 Điều 56 Bộ luật hình sự để buộc bị cáo phải chấp hành và được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 04/02/2020 đến ngày 07/02/2020.

[6] Về xử lý vật chứng: Số ma túy còn lại sau giám định được niêm phong trong túi (ký hiệu PS2 1914436) và bao gói còn lại sau giám định được niêm phong trong túi (có ký hiệu PS2 2108693) là vật cấm lưu hành nên tịch thu, tiêu hủy. 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu xám, gắn kèm thẻ sim Vinaphone in số 89840200011294486236 thu giữ của bị cáo C; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, màu xanh, gắn kèm thẻ sim Vinaphone in số 89840200011259069126 và sim Vinaphone in số 89840200011108877877 thu giữ của bị cáo S; xe mô tô nhãn hiệu Yamaha biển kiểm soát 43F1-141.77 thu giữ của bị cáo P1, các bị cáo dùng làm phương tiện phạm tội nên tịch thu, nộp ngân sách nhà nước. 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, màu tím, gắn kèm thẻ sim in số 8984048000300814335 thu giữ của bị cáo P1, bị cáo P1 không sử dụng vào việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo (03 điện thoại được niêm phong trong túi ký hiệu MT273). Số tiền 140.000 đồng thu giữ của bị cáo C và 1.190.000 đồng thu giữ của bị cáo S, các bị cáo dùng mua bán ma túy nên tịch thu, nộp ngân sách nhà nước, theo quy định tại Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

[7] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[8] Ra Quyết định tạm giam bị cáo Phan Văn P1 trong thời hạn 45 ngày. Tiếp tục tạm giam bị cáo Hoàng Thị Kim C theo Quyết định tạm giam số 119/2024/HSST-QĐTG và bị cáo Nguyễn Đình S theo Quyết định tạm giam số 120/2024/HSST-QĐTG ngày 24/7/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Đình SHoàng Thị Kim C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; bị cáo Phan Văn P1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt: Nguyễn Đình S 16 (Mười sáu) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 02/11/2023.

Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 55 và khoản 2 Điều 56 của Bộ luật hình sự, xử phạt: Hoàng Thị Kim C 15 (Mười lăm) năm 06 (Sáu) tháng tù. Tổng hợp với hình phạt 08 (tám) năm tù của Bản án hình sự sơ thẩm số 02/2021/HSST ngày 29/01/2021 của Tòa án nhân dân huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị, buộc bị cáo Hoàng Thị Kim C phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 23 (Hai mươi ba) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 01/11/2023, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 04/02/2020 đến ngày 07/02/2020.

Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt: Phan Văn P1 10 (Mười) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 01/11/2023.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

* Tịch thu, tiêu hủy:

  • - 01 túi niêm phong ký hiệu PS2 1914436, bên ngoài có họ tên, chữ ký của Trương Văn Song H3, Nguyễn Thị Thu H4, Hoàng Kim B, Trần Trung H5 và hình dấu của Phòng K1 Công an tỉnh Q (kèm Kết luận giám định số: 1098/KL - KTHS ngày 09/11/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh Q);
  • - 01 túi niêm phong, ký hiệu PS2 2108693, bên ngoài có họ tên, chữ ký của Nguyễn Văn Đ1, Phạm Quang V, Hoàng Kim B, Trần Trung H5 và hình dấu của Phòng K1 Công an tỉnh Q (kèm Kết luận giám định số: 1179/KL-KTHS ngày 30/11/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh Q).

* Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước:

  • + 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu xám, gắn kèm thẻ sim Vinaphone in số 89840200011294486236;
  • + 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, màu xanh, gắn kèm thẻ sim Vinaphone in số 89840200011259069126 và sim Vinaphone in số 89840200011108877877.
  • + 01 xe mô tô hai bánh, nhãn hiệu YAMAHA, số loại Nouvo, màu đen, biển kiểm soát 43F1-141.77; số khung: RLCN2B5607Y051510, số máy: 2B56051510, xe đã qua sử dụng, không kiểm tra chi tiết bên trong xe.
  • + Tiền ngân hàng N: 1.330.000 (Một triệu ba trăm ba mươi ngàn) đồng, được niêm phong ký hiệu TIỀNKL369, bên ngoài có chữ ký của những người tham gia niêm phong và hình dấu của Phòng K1 Công an tỉnh Q (kèm Kết luận giám định số: 369/KL-KTHS ngày 14/3/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Q). Hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q đang bảo quản tại Kho bạc Nhà nước tỉnh Q theo Biên bản giao nhận tài sản số 25/2024/BBBG- CA tỉnh Q ngày 26/3/2024 giữa Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Q và Kho bạc Nhà nước tỉnh Q.

* Trả lại cho Phan Văn P1 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, màu tím, gắn kèm thẻ sim in số 8984048000300814335.

* 03 điện thoại di động được niêm phong trong hộp giấy ký hiệu MT273, bên ngoài có họ tên, chữ ký của Nguyễn Anh T3, Trần Xuân T4, Trần Trung H5 và hình dấu của Phòng K1 Công an tỉnh Q (kèm Kết luận giám định số: 417/KL-KTHS ngày 26/3/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Q).

Vật chứng hiện có tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Quảng Trị theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 09 tháng 8 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an tỉnh Q với Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Trị.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, buộc bị cáo Nguyễn Đình S, Hoàng Thị Kim CPhan Văn P1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - VKSND CC tại Đà Nẵng;
  • - VKSND tỉnh Quảng Trị;
  • - Công an tỉnh Quảng Trị;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Trị;
  • - Các bị cáo;
  • - Người TGTT;
  • - Lưu: Hồ sơ, TỔ HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đoàn Thị Kim Thương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 65/2024/HS-ST ngày 14/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ về vụ án hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 65/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Đinh S phạm tội ua bán ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger