Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 65/2024/HS-ST

Ngày: 14-6-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Thanh Tiền

Các hội thẩm nhân dân:

Ông Tô Tấn Chương

Bà Trần Nguyệt Mai

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Tùng Lâm – Thư ký Toà án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Đẩu - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 56/2024/TLST-HS ngày 06/5/2024, quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 67/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Bùi Hoàng Duy T,

    sinh ngày 10 tháng 02 năm 1998 tại: Thành phố Hồ Chí Minh; giới tính: Nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 666/11/11/13 B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: Nhà không số, tổ C, ấp B, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Không; Học vấn: 11/12; Dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Bùi Hoàng T1; con bà: Huỳnh Thị Hoàng M; Có vợ tên Lê Thị Kim N; Có 01 người con, sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 27/8/2020 bị Công an huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh lập biên bản vi phạm về hành vi lôi kéo người khác đánh nhau, ngày 01/9/2020 Ủy ban nhân dân xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh ra quyết định xử phạt hành chính.

    Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 17/01/2024 đến ngày 26/01/2024 thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt tại phiên tòa).

  2. Nguyễn Từ Cao Trung H,

    sinh ngày 20 tháng 5 năm 1996 tại: Long An; giới tính: Nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 304 Tỉnh lộ 827, Phường G, thành phố T, tỉnh Long An; Chỗ ở: Nhà không số, cạnh địa chỉ số A đường T, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Không; Học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn M1; con bà: Bùi Thị Đ; Chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/12/2023 (có mặt tại phiên tòa).

  3. Nguyễn Thu T2,

    sinh ngày 14 tháng 5 năm 2003 tại: Thành phố Hồ Chí Minh; giới tính: Nữ; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 49/7 T, tổ C, khu phố D, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: Nhà không số cạnh địa chỉ số A đường T, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Không; Học vấn: 03/12; Dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Đỗ Thanh S; con bà: Nguyễn Thị Thu H1; Chưa có chồng, con; Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/12/2023 (có mặt tại phiên tòa).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Ông Lương Phú Minh Đ1, sinh năm 1994; Nơi cư trú: 790/13/9 H, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  2. Ông Lưu Hoàng L, sinh năm 1999; Nơi cư trú: 177/42 L, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt)
  3. Bà Bùi Thị Đ, sinh năm 1968; Nơi cư trú: 304 Tỉnh lộ 827, Phường G, thành phố T, tỉnh Long An (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 14 giờ 45 phút ngày 21/12/2023, Tổ tuần tra Công an Q phát hiện đối tượng Nguyễn Từ Cao Trung H và Nguyễn Thu T2 đang đậu xe mô tô hiệu Vario, biển số: 50N1-772.62 tại trước địa chỉ E N, Phường I, Quận E; trên xe của H có đặt 01 thùng carton nghi vấn chứa hàng cấm nên tiến hành kiểm tra, qua kiểm tra phát hiện và thu giữ bên trong thùng carton có chứa 12 hộp pháo loại 49 viên, tổng khối lượng pháo khoảng 18.5 kg, các đối tượng H và T2 khai số pháo trên là pháo nổ mua của đối tượng Bùi Hoàng Duy T để bán lại cho khách kiếm lời. Do đó, Tổ công tác tiến hành đưa H, T2 cùng toàn bộ vật chứng và phương tiện về trụ sở Công an P, Quận E lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Vụ việc được chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q để thụ lý theo thẩm quyền.

Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp đối với chỗ ở của Nguyễn Thu T2 và Nguyễn Từ Cao Trung H tại địa chỉ nhà không số, cạnh địa chỉ nhà số A đường T, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, qua khám xét không phát hiện, thu giữ đồ vật, tài liệu gì.

Tiếp tục mở rộng điều tra vụ án, Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục mời Bùi Hoàng Duy T đến làm việc. Tại Cơ quan điều tra T khai nhận phù hợp với lời khai của H và T2 nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q tiến hành ra Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với T.

Tại Cơ quan điều tra Nguyễn Từ Cao Trung H và Nguyễn Thu T2 khai nhận: H và T2 sống với nhau như vợ chồng từ đầu năm 2023. Do cần tiêu xài nên cả hai bàn bạc đặt mua pháo nổ để bán lại cho người khác kiếm lời, cụ thể: H có nhiệm vụ tìm kiếm nguồn pháo và giao pháo cho khách, T2 có nhiệm vụ đăng bài bán pháo trên trang Facebook cá nhân “Nguyễn Thảo” để tìm kiếm khách hàng và thống nhất giá bán cho khách. Vào sáng ngày 21/12/2023, T2 thông báo có khách hàng sử dụng tài khoản Facebook tên “Hoàng M2” đặt mua 12 hộp pháo loại 49 viên; T2 và “Hoàng Minh” có trao đổi, thống nhất giá tiền và số lượng 12 hộp pháo, sau đó T2 yêu cầu H tìm kiếm pháo để bán cho “Hoàng M2”. Do có quen biết với Bùi Hoàng Duy T và đã mua pháo của T trước đó nên H liên hệ với T để mua số lượng pháo như “Hoàng Minh” đặt thì T liên hệ với tài khoản Facebook tên “Hồ Văn K” để mua số pháo trên, sau đó báo giá cho H là 820.000 đồng/hộp và yêu cầu H chuyển tiền cho T qua tài khoản Ngân hàng S2 số 06037940429. Trước đó, H có mua pháo của T hiện còn thiếu số tiền là 4.860.000 đồng nên sau khi tính số tiền mua pháo của 12 hộp x 820.000 đồng = 9.840.000 đồng, H chuyển vào tài khoản của T số tiền 14.700.000 đồng. Đến khoảng 12 giờ cùng ngày, H chở T2 đến khu vực Bến xe A, Quận A để gặp T và nhận số pháo đã đặt mua. Sau khi kiểm tra đủ 12 hộp pháo loại 49 viên, H dùng dây buộc thùng pháo đặt ra phía sau xe biển số 50N1-772.62, đồng thời T2 gọi điện thoại cho “Hoàng Minh” thì được thông báo đến khu vực Quận E để giao hàng nên H chở T2 cùng số pháo trên đến trước địa chỉ E N, Phường I, Quận E để bán pháo cho “Hoàng Minh” thì bị Công an Q phát hiện bắt quả tang. H cùng T2 bán được 02 lần, đều bán cho khách tên “H”, H mua với giá 820.000 đồng/hộp và bán ra với giá 950.000 đồng/hộp, cụ thể:

  • Lần thứ nhất, bán 01 hộp pháo loại 49 viên (không nhớ rõ thời gian), H thu lợi được 130.000 đồng, đã sử dụng hết vào mục đích cá nhân.
  • Lần thứ hai, bán 12 hộp pháo loại 49 viên với giá 11.400.000 đồng; nếu bán được sẽ thu lợi được 1.560.000 đồng. H khai mua pháo của Bùi Hoàng Duy T được 03 lần, lần thứ nhất (không nhớ rõ mua loại số pháo gì), không nhớ bán giá bao nhiêu và bán cho ai, lần thứ 2 mua 01 hộp 49 viên, bán cho “Hoàng Minh” lời được 130.000 đồng, lần cuối cùng (21/12/2023) 12 hộp pháo nổ loại 49 viên cũng bán cho “Hoàng Minh” nhưng chưa kịp bán và thu lợi số tiền 1.560.000 đồng thì bị bắt giữ.

Bùi Hoàng Duy T khai phù hợp với Nguyễn Từ Cao Trung H. Ngày 21/12/2023, H có đặt mua 12 hộp pháo loại 49 viên với giá 9.840.000 đồng. Trác khai trước đó đã bán pháo cho H được 03 lần nhưng không nhớ rõ số lượng pháo đã bán và số tiền thu lợi bao nhiêu. Số pháo T bán cho H là của T3 của từ 01 tài khoản Facebook tên “Hồ Văn K”, liên lạc qua số điện thoại 0969.636.xxx.

Vật chứng thu giữ: 01 (một) thùng carton được niêm phong bên ngoài có các chữ ghi tên Nguyễn Từ Cao Trung H (đại diện chủ hàng) và Phạm Ngọc K1 (Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và chức vụ), bên trong có: 11 (mười một) khối hình hộp chữ nhật kích thước 17cm x 17cm x 10cm, bên ngoài được bọc giấy nhiều màu sắc (mỗi khối gồm 49 lỗ tròn có đường kính 2,2cm, cao 10cm được gắn với nhau) (ký hiệu mẫu m1) đều là pháo nổ, có tổng khối lượng 15,96 kg (một năm phẩy chín sáu kilogam); 01 (một) khối hình hộp chữ nhật kích thước 17cm x 17cm x 10cm, bên ngoài được bọc giấy nhiều màu sắc (mỗi khối gồm 49 lỗ tròn có đường kính 2,2cm, cao 10cm được gắn với nhau) (ký hiệu mẫu m2) là pháo nổ, có khối lượng 1,82 kg (một phẩy tám hai kilogam). Số mẫu vật còn lại sau giám định được đựng trong 01 (một) thùng carton dán niêm phong, có chữ ký xác nhận của giám định viên Nguyễn Xuân S1 và cán bộ Đào Nguyễn Nhật D; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone, số Imei: 352856111990205; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 14 Phomax, số I: 356163574877300; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 11, số Seri: FK1ZQZRWN72N, số Imei: 353984109845592, số Imei2: 353984109032878 đã qua sử dụng; 01 (một) xe máy hiệu Honda Vario, biển số 50N1-772.62, số máy: KF41E1453651, số khung: 4111KK452840.

Tại bản kết luận giám định số: 285/KL-KTHS ngày 26 tháng 12 năm 2023 của Phòng K2 Công an Thành phố H kết luận:

  • 01 (một) thùng carton được niêm phong bên ngoài có các chữ ghi tên Nguyễn Từ Cao Trung H (đại diện chủ hàng) và Phạm Ngọc K1 (Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và chức vụ), bên trong có:
    • 11 (mười một) khối hình hộp chữ nhật kích thước 17cm x 17cm x 10cm, bên ngoài được bọc giấy nhiều màu sắc (mỗi khối gồm 49 lỗ tròn có đường kính 2,2cm, cao 10cm được gắn với nhau) (ký hiệu mẫu m1) đều là pháo nổ, có tổng khối lượng 15,96 kg (một năm phẩy chín sáu kilogam);
    • 01 (một) khối hình hộp chữ nhật kích thước 17cm x 17cm x 10cm, bên ngoài được bọc giấy nhiều màu sắc (mỗi khối gồm 49 lỗ tròn có đường kính 2,2cm, cao 10cm được gắn với nhau) (ký hiệu mẫu m2) là pháo nổ, có khối lượng 1,82 kg (một phẩy tám hai kilogam).

Tổng khối lượng pháo nổ gửi giám định là 17,78kg (một bảy phẩy bảy tám kilogam).

Bản cáo trạng số: 58/CT-VKSQ5 ngày 03/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố các bị cáo Bùi Hoàng Duy T, Nguyễn Từ Cao Trung H và Nguyễn Thu T2 về tội: “Buôn bán hàng cấm” theo điểm c Khoản 1 Điều 190 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5 giữ quyền công tố luận tội và tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo Bùi Hoàng Duy T, Nguyễn Từ Cao Trung H và Nguyễn Thu T2 về tội “Buôn bán hàng cấm”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c Khoản 1 Điều 190; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Bùi Hoàng Duy T với mức án từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù; bị cáo Nguyễn Từ Cao Trung H với mức án từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù; bị cáo Nguyễn Thu T2 với mức án từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Buộc cáo bị cáo nộp lại số tiền thu lợi bất chính; về vật chứng xử lý theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

  1. [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. [2] Tại phiên tòa công khai, các bị cáo Bùi Hoàng Duy T, Nguyễn Từ Cao Trung H và Nguyễn Thu T2 đã khai nhận hành vi phạm tội, lời khai của các bị cáo là phù hợp với nhau, phù hợp với vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận, các bị cáo Bùi Hoàng Duy T, Nguyễn Từ Cao Trung H và Nguyễn Thu T2 đã có hành vi mua các loại pháo nổ nhằm mục đích bán lại cho người khác để kiếm lời, ngày 21/12/2023 khi bị cáo H và T2 đến trước nhà số E N, Phường I, Quận E để chuẩn bị giao pháo bán cho đối tượng tên Hoàng M2 thì bị Công an kiểm tra bắt quả tang thu giữ tổng cộng 17,78kg (một bảy phẩy bảy tám kilogam) pháo. Theo kết quả giám định số pháo mà Cơ quan Công an thu giữ của các bị cáo đều là pháo nổ. Do đó, hành vi của bị cáo Bùi Hoàng Duy T, Nguyễn Từ Cao Trung H và Nguyễn Thu T2 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Buôn bán hàng cấm” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 190 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

    Xét các bị cáo là người có đủ năng lực hành vi, đủ khả năng nhận thức được việc làm của mình, vì muốn có tiền tiêu xài cá nhân mà các bị cáo đã cùng nhau tìm kiếm mua pháo nhằm để bán lại cho người khác để kiếm lời, hành vi của các bị cáo là cố ý thực hiện.

    Xét giữa bị cáo H và T2 sống chung với nhau như vợ chồng, vì cần tiền tiêu xài mà bị cáo H và T2 đã rủ rê cùng nhau mua pháo nổ để bán cho người khác để kiếm lời, đây là vụ án có đồng phạm nhưng mang tính giản đơn, bị cáo H là người tìm kiếm mua pháo, còn bị cáo T2 thì tìm kiếm khách hàng để bán pháo bằng cách đăng bán pháo trên trang Facebook cá nhân và cùng với H đi giao pháo bán cho khách.

    Riêng bị cáo Bùi Hoàng Duy T thì thực hiện hành vi mua bán pháo nổ một mình, không có ai tham gia khác.

    Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước mà cụ thể là trật tự quản lý việc sản xuất, buôn bán hàng cấm là các loại pháo nổ, làm ảnh hưởng đến sự ổn định và phát triển của kinh tế Nhà nước. Do đó, cần phải có một mức án nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của từng bị cáo; nhằm mục đích giáo dục các bị cáo, đồng thời có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.

  3. [3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
  4. [4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn hối cải; phạm tội nhân thân chưa có tiền án tiền sự. Do đó, cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo khi lượng hình.
  5. [5] Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Căn cứ Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo thực hiện hành vi mua bán pháo nổ với khối lượng với số lượng tương đối nhiều, không có nghề nghiệp ổn định nên cần thiết phải bắt các bị cáo chấp hành hình phạt tù một thời gian nhất định để cải tạo các bị cáo thành người có ích cho xã hội và đủ sức răn đe đối với những người khác có hành vi tương tự.
  6. [6] Về hình phạt bổ sung: Xét các bị cáo phạm tội vì mục đích hưởng lợi, tuy nhiên các bị cáo khó khăn về kinh tế nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.
  7. [7] Về khoản tiền thu lợi bất chính: Xét vào ngày 21/12/2023, các bị cáo H và T2 chưa kịp bán pháo nổ cho người mua nên chưa được hưởng lợi gì, bên cạnh đó, bị cáo T, H và T2 có khai trước đây đã từng mua pháo của bị cáo T và bán pháo cho đối tượng Hoàng M2 nhưng các bị cáo T, H và T2 không nhớ thu lợi bất chính được bao nhiêu, bên cạnh đó không xác định được các lần trước các loại pháo của các bị cáo mua bán có phải là pháo nổ hay không nên Hội đồng xét xử chưa đủ cơ sở buộc các bị cáo nộp lại số tiền thu lợi bất chính.
  8. [8] Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố để xét xử các bị cáo là có cơ sở pháp luật, đúng người, đúng tội, không oan sai.
  9. [9] Đối với thanh niên sử dụng tài khoản Facebook tên “Hoàng M2” mua pháo của Nguyễn Từ Cao Trung H và Nguyễn Thu T2, hiện chưa rõ lai lịch, khi nào xác định được và có đủ căn cứ sẽ xem xét xử lý sau.

    Đối với tài khoản Facebook tên “Hồ Văn K” sử dụng số điện thoại 0969.636.xxx để liên lạc bán pháo cho T, hiện chưa rõ lai lịch, khi nào xác định được và có đủ căn cứ sẽ xem xét xử lý sau.

    Đối với lời khai của các bị cáo T, H và T2 khai nhận, T đã bán pháo cho H, T2 trước đó (ngày 21/12/2023) hai lần. Tuy nhiên, không thu giữ được vật chứng, chưa xác định được lai lịch cụ thể người mua lại của H, T2 nên không xác định cụ thể về loại pháo nổ và trọng lượng pháo nổ bao nhiêu. Do đó, chưa đủ cơ sở xử lý Trác và H, T2 về các lần mua bán pháo nổ nêu trên.

  10. [10] Về vật chứng:

    01 (một) thùng carton được niêm phong bên ngoài có các chữ ghi tên Nguyễn Từ Cao Trung H (đại diện chủ hàng) và Phạm Ngọc K1 (Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và chức vụ), bên trong có: 11 (mười một) khối hình hộp chữ nhật kích thước 17cm x 17cm x 10cm, bên ngoài được bọc giấy nhiều màu sắc (mỗi khối gồm 49 lỗ tròn có đường kính 2,2cm, cao 10cm được gắn với nhau) (ký hiệu mẫu m1) đều là pháo nổ, có tổng khối lượng 15,96 kg (một năm phẩy chín sáu kilogam); 01 (một) khối hình hộp chữ nhật kích thước 17cm x 17cm x 10cm, bên ngoài được bọc giấy nhiều màu sắc (mỗi khối gồm 49 lỗ tròn có đường kính 2,2cm, cao 10cm được gắn với nhau) (ký hiệu mẫu m2) là pháo nổ, có khối lượng 1,82 kg (một phẩy tám hai kilogam). Số mẫu vật còn lại sau giám định được đựng trong 01 (một) thùng carton dán niêm phong, có chữ ký xác nhận của giám định viên Nguyễn Xuân S1 và cán bộ Đào Nguyễn Nhật D. Xét đây là vật phạm pháp, nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.

    Xét 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone, số Imei: 352856111990205; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 14 Phomax, số I: 356163574877300; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 11, số Seri: FK1ZQZRWN72N, số Imei: 353984109845592, số Imei2: 353984109032878 đã qua sử dụng là tài sản cá nhân của các bị cáo T, H và T2, có sử dụng liên lạc trong việc mua bán pháo nổ nên Hội đồng xét xử xem xét tịch thu sung ngân sách nhà nước.

    Xét 01 (một) xe máy hiệu Honda Vario, biển số 50N1-772.62, số máy: KF41E1453651, số khung: 4111KK452840 do ông Lương Phú Minh Đ1 đứng tên chủ sở hữu, ông Đ1 đã bán chiếc xe trên cho bà Bùi Thị Đ2 (do ông Lưu Hoàng L đứng tên mua dùm trong hợp đồng mua bán xe), bà Đ đưa cho bị cáo H sử dụng, không biết bị cáo H sử dụng làm phương tiện đi mua bán pháo nổ nên Hội đồng xét xử xem xét trả lại cho bà Đ.

  11. [11] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Luật phí và lệ phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c Khoản 1 Điều 190; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Bùi Hoàng Duy T 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án nhưng được trừ đi thời gian tạm giữ trước đây từ ngày 17/01/2024 đến ngày 26/01/2024.

Tiếp tục duy trì Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 13/2024/HSST-LCĐKNCT ngày 06 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh đối với bị cáo Bùi Hoàng Duy T cho đến khi chấp hành án.

Căn cứ điểm c Khoản 1 Điều 190; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Nguyễn Từ Cao Trung H 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù về tội “Buôn bán hàng cấm”. Thời hạn tù tính từ ngày 21/12/2023.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thu T2 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Buôn bán hàng cấm”. Thời hạn tù tính từ ngày 21/12/2023.

Căn cứ điểm a, c Khoản 1, Khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm a Khoản 2; điểm b Khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) thùng carton được niêm phong bên ngoài có các chữ ghi tên Nguyễn Từ Cao Trung H (đại diện chủ hàng) và Phạm Ngọc K1 (Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và chức vụ), bên trong có: 11 (mười một) khối hình hộp chữ nhật kích thước 17cm x 17cm x 10cm, bên ngoài được bọc giấy nhiều màu sắc (mỗi khối gồm 49 lỗ tròn có đường kính 2,2cm, cao 10cm được gắn với nhau) (ký hiệu mẫu m1) đều là pháo nổ, có tổng khối lượng 15,96 kg (một năm phẩy chín sáu kilogam); 01 (một) khối hình hộp chữ nhật kích thước 17cm x 17cm x 10cm, bên ngoài được bọc giấy nhiều màu sắc (mỗi khối gồm 49 lỗ tròn có đường kính 2,2cm, cao 10cm được gắn với nhau) (ký hiệu mẫu m2) là pháo nổ, có khối lượng 1,82 kg (một phẩy tám hai kilogam). Số mẫu vật còn lại sau giám định được đựng trong 01 (một) thùng carton dán niêm phong, có chữ ký xác nhận của giám định viên Nguyễn Xuân S1 và cán bộ Đào Nguyễn Nhật D.

Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone, số Imei: 352856111990205; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 14 Phomax, số I: 356163574877300; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 11, số Seri: FK1ZQZRWN72N, số Imei: 353984109845592, số Imei2: 353984109032878 đã qua sử dụng.

Trả lại cho bà Bùi Thị Đ: 01 (một) xe máy hiệu Honda Vario, biển số 50N1-772.62, số máy: KF41E1453651, số khung: 4111KK452840.

(Tang vật hiện đang được tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh, theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/5/2024).

Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Luật phí và lệ phí.

Mỗi bị cáo chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân TpHCM;
  • - Sở Tư pháp TpHCM;
  • - Viện kiểm sát nhân dân TpHCM;
  • - Viện kiểm sát nhân dân Quận 5;
  • - Cơ quan CSĐT Công an Quận 5;
  • - Phòng PV 06-Công an TpHCM;
  • - Bộ phận THA HS Tòa án Quận 5;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5;
  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu Hồ sơ vụ án, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lâm Thanh Tiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 65/2024/HS-ST ngày 14/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về buôn bán hàng cấm (pháo nổ)

  • Số bản án: 65/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Buôn bán hàng cấm (Pháo nổ)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bùi Hoàng Duy T-Buôn bán hàng cấm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger