|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc |
|
Bản án số: 65/2024/HS-ST Ngày 13/6/2024 |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN
Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Kao Hoàng
Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông: Nguyễn Quang Hợp.
2. Ông: Phan Tuấn.
Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Thành Công - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.
Đại diện VKSND huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị N, Kiểm sát viên.
Trong ngày 13 tháng 6 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 63/2024/TLST - HS ngày 27/5/2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 62/2024/QĐXXST - HS ngày 31/5/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Văn Q, sinh ngày 03/3/1999.
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Xóm K, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên;
Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Cao Lan; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Chức vụ: Không; Trình độ văn hóa: Lớp 12/12.
Con ông: Trần Văn Đ, sinh năm: 1977; Con bà: Lạc Thị H, sinh năm: 1979;
Vợ, con: Không; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất;
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 29/02/2024 đến nay. (Có mặt tại phiên tòa).
* Bị hại: Công ty TNHH K.
Địa chỉ: Xóm S, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Đại diện theo pháp luật: Ông: Phạm Chiến T - Giám đốc truyền thông, Cộng đồng và quan hệ đối ngoại, Công ty TNHH K, chế biến khoáng sản Núi Pháo.
Đại diện theo ủy quyền: Ông: Nguyễn Văn M, sinh năm 1959 - Đội trưởng an ninh Công ty TNHH K. (Có mặt)
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1. Bà: Lạc Thị H, sinh năm: 1979 (Có mặt)
2. Ông: Trần Văn Đ, sinh năm 1977 (Có mặt)
Đều trú tại: Xóm K, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
* Người làm chứng:
1. Anh: Trần Văn N1, sinh 1990 (Vắng mặt)
Trú tại: Xóm Khuân Lình, xã Hà Thượng, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên
2. Anh: Nguyễn Văn T1, sinh năm 1984 (Có mặt)
Trú tại: Xóm M, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên
3. Ông Bùi Đình P, sinh năm 1958 (Vắng mặt)
Trú tại: Tổ I, phường H, TP T, tỉnh Thái Nguyên
* Người chứng kiến:
Ông: Trương Văn H1, sinh năm 1964 (Vắng mặt).
Trú tại: Xóm S, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Văn Q là nhân viên làm tại kho vật tư của Công ty trách nhiệm hữu hạn K (viết tắt: Công ty K) từ tháng 02/2023 và biết tại Kho tập kết vật tư số 4 của công ty có để nhiều vật tư, thiết bị dây điện bằng kim loại đồng (dây điện). Nhưng đến ngày 26/11/2023, Công ty K chấm dứt hợp đồng lao động với Q. Do không có việc làm nên Q nảy sinh ý định trộm cắp số dây điện của Công ty K đem bán lấy tiền tiêu sài.
Khoảng 17 giờ 20 phút ngày 08/01/2024, lợi dụng thời điểm nhân viên công ty K tan ca, có nhiều người ra vào công ty, lực lượng bảo vệ khó phát hiện nên Q điều khiển xe mô tô BKS: 20F1- 545.05 của Q đến để tại bãi gửi xe tại cổng Công ty K rồi đi bộ đến cửa Kho tập kết vật tư số 4 (tức kho Vipco - Laydow 4), thấy vị trí khe hở giữa hai cánh cửa rồi chui người qua khe cửa cổng, đi vào bên trong Kho vật tư số 4 để trộm cắp dây điện. Đến nơi, thấy tại khu vực trước cửa nhà phun sơn của công ty H3 (là nhà thầu của Công ty K, ở trong Kho tập kết vật tư số 4) có để nhiều đoạn dây cáp điện có vỏ nhựa màu cam, đường kính mỗi dây khoảng 05cm (bên trong có dây bằng kim loại đồng) không có người trông coi nên Q dùng tay ôm một bó dây điện (trong đó có: 04 đoạn dây điện hình trụ, vỏ màu cam, dài từ 1m50 - 02m, đường kính một đoạn khoảng 5cm) đưa qua hàng rào sắt B40 vào khu vực bếp ăn của Công ty H3. Sau đó, Q chui người qua khe hở giữa hai cánh cửa vào bên trong nhà kho vật tư (khu vực bếp ăn) của công ty H3 rồi dùng 01 con dao (loại dao dọc giấy do Q chuẩn bị từ trước) rạch, cắt, tách các vỏ nhựa của các đoạn dây điện trên ra và lấy được 12 đoạn dây điện (có vỏ nhựa màu xám, đen, nâu, vàng, xanh) có đường kính khoảng 01cm rồi đem số dây điện đến vị trí máy cắt kim loại tại kho Hải Hoàng P1 rồi vận hành máy cắt các dây điện trên thành nhiều đoạn có độ dài từ 30cm - 40cm. Do thời điểm Q cắt xong các đoạn dây điện trên vào khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày, do thấy trời tối, có ít người ra vào qua cổng công ty, sợ bị bảo vệ phát hiện nên Q cất giấu các dây điện trên vào trong ống nhựa P3 (đường kính khoảng 100cm, dài 1,95m, có sẵn tại kho) rồi để ống nhựa đựng số dây điện trên tại sát tường nhà kho Hải Hoàng P1.
Đến khoảng 17 giờ 20 phút ngày 09/01/2024, Q đem theo 01 dao dọc giấy và 01 cuộn băng dính cất giấu vào túi quần Q đang mặc rồi điều khiển xe mô tô BKS:20F1 - 545.05 đến vị trí ngày hôm trước Q cất dây điện. Khi đến nơi, Q đang chuẩn bị buộc dây điện vào bụng thì bị lực lượng bảo vệ Công ty K đi kiểm tra, phát hiện, trình báo Công an xã H đến lập biên bản sự việc, thu giữ vật chứng, gồm:
- Tại khu vực máy cắt, gần hàng rào kho thu giữ được tổng trọng lượng 22,2 kg dây cáp điện gồm:
+ 24 dây cáp điện hình trụ, vỏ nhựa màu xám, bên trong có dây kim loại, có kích thước khác nhau, trên vỏ nhựa không có chữ, có trọng lượng là 5,4 kg;
+ 14 dây cáp điện hình trụ, vỏ nhựa màu nâu, bên trong có dây kim loại, có kích thước khác nhau, không có chữ, vết cắt hai đầu dây còn mời, có trọng lượng là 3,4 kg;
+ 49 dây cáp điện hình trụ, có vỏ nhựa màu vàng - xanh, bên trong có dây kim loại có kích thước khác nhau, không có chữ, vết cắt hai đầu dây còn mới trọng lượng là 4,6 kg;
+ 21 dây cáp điện hình trụ, có vỏ nhựa màu đen, bên trong có dây kim loại vết cắt hai đầu dây còn mới, trên vỏ nhựa không có chữ, có kích thước khác nhau, có khối lượng là 4,5 kg;
+ 03 dây điện hình trụ, không vỏ, màu đen, có dây kim loại, vết cắt hai đầu dây còn mới, có kích thước khác nhau, khối lượng là 0,5 kg.
+ 02 đoạn dây điện hình trụ, vỏ nhựa màu cam, bên trong có dây kim loại, có kích thước dài lần lượt là 100cm, 53cm, có tổng trọng lượng là 3,8 kg.
(Tổng trọng lượng 22,2 kg dây cáp điện nêu trên được niêm phong vào bao tải dứa ký hiệu A2).
- Thu giữ tại khu vực bàn ăn (nhà kho H) 35,6 kg dây cáp điện (có vỏ bằng nhựa, lõi bằng đồng), gồm:
+ 28 đoạn dây điện hình trụ, có vỏ nhựa màu xanh, bên trong có dây kim loại, kích thước khác nhau, vết cắt hai đầu dây đã cũ.
+ 10 đoạn dây điện hình trụ, có vỏ nhựa màu cam, bên trong có dây kim loại, vết cắt hai đầu dây đã cũ. Trong đó: 07 (bẩy) đoạn đều có chữ là Cu/xlpe/pvc/cts/pvc; và 02 (hai) đoạn dây màu cam không có chữ.
+ 04 (bốn) dây cáp điện hình trụ, có vỏ nhựa màu đen, bên trong có dây kim loại, vết cắt hai đầu dây đã cũ.
(Tổng khối lượng 35,6kg dây cáp điện trên được niêm phong vào bao tải dứa, ký hiệu A2).
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 plus, màu đen, số Imiel 355842089860411, đã qua sử dụng, bên trong lắp sim số thuê bao 0981716745. (Thu giữ tại túi quần bên phải của Trần Văn Q. Niêm phong vào phong bì ký hiệu A3).
- 01 dao dọc giấy, có chuôi nhựa màu xanh, cán dao dài 15cm, lưỡi dao dài 3cm, đã cũ; 01 cuộn băng dính loại to. (Thu giữ tại túi quần đầu gối bên phải của Q. Niêm phong vào hộp bìa cattong ký hiệu A4).
Như vây, tổng trọng lượng dây cáp điện do Trần Văn Q trộm cắp của Công ty K thu giữ được ngày 09/01/2024 là 57,8kg. (Năm mươi bảy phẩy tám kilogam).
Cùng ngày 09/01/2024, Trần Văn Q giao nộp cho Công an xã H 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave RSX, màu xanh đen, Biển kiểm soát (BKS) 20F1- 54505, số khung RLHJA3824KY030826, số máy JA38E0513955 có Đăng ký xe mang tên Trần Văn Q (là phương tiện Q điều khiển đến Công ty K để trộm cắp tài sản).
Cùng ngày 09/01/2024, Công ty K có đơn trình báo, đề nghị Cơ quan CSĐT - Công an huyện Đ giải quyết.
Xét thấy vụ việc có dấu hiệu của tội phạm nên Công an xã H - huyện Đ đã chuyển hồ sơ, vật chứng đến Cơ quan CSĐT - Công an huyện Đ để xác minh, xử lý theo thẩm quyền.
Tại Kết luận định giá tài sản số 05/KL-HĐĐGTS ngày 05/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ kết luận: Giá trị của dây điện hình trụ, bị cắt thành nhiều đoạn có chiều dài khác nhau, lõi gồm nhiều sợi dây kim loại màu nâu đỏ, tổng khối lượng 57,8kg bị trộm cắp vào thời điểm tháng 01/2024, có giá trị là 5.202.000 đồng (Bằng chữ: Năm triệu hai trăm linh hai nghìn đồng).
Vật chứng của vụ án gồm:
01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại WAVE RSX, màu sơn: Đen xám, BKS: 20F1-54505, đã qua sử dụng; 01 dao rọc giấy (có chuôi bằng nhựa màu xanh, lưỡi dao rộng 03cm); 01 cuộn băng dính, được niêm phong vào hộp bìa carton ký hiệu A4; 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu Iphone 7 Plus, màu đen, điện thoại có lắp 01 sim số thuê bao 0981718745, tình trạng đã qua sử dụng, được niêm phong trong phong bì ký hệu A5.
Đang được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đại Từ.
01 (một) Bao tải trắng ký hiệu A1 được niêm phong theo quy định, bên trong có 22,2kg đoạn dây điện có kích thước khác nhau; 01 (một) bao tải trắng ký hiệu A2 được niêm phong theo quy định, bên trong có 35,6kg đoạn dây điện có kích thước khác nhau đã được trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là Công ty K; 01 máy cắt kim loại nhãn hiệu Mitsubishi, màu vàng, được giao cho Công ty H3 tại Công ty K để quản lý.
Về phần trách nhiệm dân sự: Sau khi nhận lại tài sản bị trộm cắp và bồi thường cho công ty, Công ty TNHH K, chế biến khoáng sản Núi Pháo không có yêu cầu gì nên không xem xét.
Tại cáo trạng số 66/CT - VKSĐT ngày 21/5/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố Trần Văn Quỳnh phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố; đề nghị HĐXX áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Điều 65 BLHS.
Xử phạt: Bị cáo Trần Văn Q mức án từ 12 đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng.
Ngoài ra, còn đề nghị xử lý vật chứng và buộc bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Trong phần tranh luận, bị cáo Q không có ý kiến tranh luận, thừa nhận việc truy tố, xét xử là đúng người đúng tội, không oan. Bị cáo Q xin HĐXX xem xét cho bị cáo được cải tạo địa phương.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về căn cứ buộc tội: Tại giai đoạn điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn Q khai nhận toàn bộ diễn biến, hành vi nội dung sự việc đúng như nội dung kết luận điều tra và bản cáo trạng đã truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại giai đoạn điều tra, truy tố; phù hợp với đơn trình báo của bị hại, biên bản và sơ đồ khám nghiệm hiện trường, vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác Cơ quan điều tra đã thu thập có trong hồ sơ vụ án.
Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 09/01/2024, tại Công ty trách nhiệm hữu hạK, khai thác, chế biến khoáng sản Núi Pháo thuộc xóm S, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Trần Văn Q đã thực hiện hành vi trộm cắp 57,8kg dây điện có giá trị 5.202.000 đồng (Năm triệu hai trăm linh hai nghìn đồng) thì bị phát hiện, thu giữ vật chứng. Đến nay, tài sản đã được thu hồi, trả lại Công ty K quản lý và sử dụng.
Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS. Bản cáo trạng truy tố và quan điểm đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ tại phiên tòa đối với bị cáo là hoàn toàn có căn cứ và phù hợp với các quy định của pháp luật.
Nội dung điều luật quy định như sau:
Điều 173 BLHS quy định:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng ... thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.
[3]. Xét tính chất hành vi phạm tội của bị cáo: Tính chất của vụ án thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Lợi dụng đã từng làm việc tại Công ty K nên khi phát hiện có sự sơ hở của chủ sở hữu tài sản, Trần Văn Q đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của Công ty K bằng hình thức lén lút đột nhập vào trong nhà kho của Công ty và trộm cắp tài sản là các đoạn dây điện có lõi bằng đồng, có giá trị 5.202.000 đồng. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ.
[4]. Xét tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 BLHS là: “Người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại”, “Phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” và “Người phạm tội thành khẩn khai báo”. Ngoài ra, bị cáo Q được Ủy ban nhân dân xã T - huyện V, tỉnh Bắc Giang tặng Giấy khen có thành tích trong công tác phòng, chống dịch C tại xã T và tại phiên tòa đại diện bị hại Công ty TNHK khai thác, chế biến khoáng sản Núi Pháo xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2, Điều 51 BLHS. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng TNHS nào.
[5]. Xét nhân thân của bị cáo thì thấy: Bị cáo là người chưa có tiền án, tiền sự và được sinh ra, lớn lên trong gia đình lao động, được nuôi ăn học, đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự trở về địa phương, có đủ nhận thức các việc làm đúng sai của bản thân nhưng do ham mê cờ bạc và coi thường pháp luật, bị cáo đã cố tình thực hiện hành vi phạm tội.
[6]. Về hình phạt: Căn cứ vào tính chất hành vi, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, HĐXX thấy: Bị cáo Trần Văn Q là người chưa có tiền án, tiền sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, được tặng giấy khen trong việc thực hiện nghĩa vụ quân sự về phòng chống COVID và được đại diện bị hại Công ty TNHH K, chế biến khoáng sản Núi P2 cũng xin giảm nhẹ hình phạt. Do vậy để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, xét thấy không cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mà chỉ cần tuyên một mức án phạt tù nhưng cho bị cáo hưởng án treo, giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú để giám sát giáo dục là phù hợp và thể hiện tính khoan hồng của pháp luật. Mức hình phạt theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên tại phiên tòa là phù hợp, được chấp nhận.
[7]. Trách nhiệm dân sự:
Sau khi nhận lại tài sản bị trộm cắp và bồi thường cho công ty, Công ty TNHH K, chế biến khoáng sản Núi Pháo không có yêu cầu gì nên HĐXX không xem xét.
[8]. Về vật chứng vụ án
+ 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại WAVE RSX, màu sơn: Đen xám, BKS: 20F1-54505, đã qua sử dụng. Mặc dù được người có QLNVLQ xác định là tài sản của mình nhưng không có căn cứ để chứng minh nên được xác định là công cụ, phương tiện phạm tội, cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
+ 01 dao rọc giấy (có chuôi bằng nhựa màu xanh, lưỡi dao rộng 03cm); 01 cuộn băng dính, được niêm phong vào hộp bìa carton ký hiệu A4 là công cụ phương tiện phạm tội, cần tịch thu tiêu hủy.
+ 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu Iphone 7 Plus, màu đen, điện thoại có lắp 01 sim số thuê bao 0981718745, tình trạng đã qua sử dụng, được niêm phong trong phong bì ký hệu A5. Xác định không liên quan đến vụ án, cần trả lại cho bị cáo nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
[9]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
[10]. Các nội dung có liên quan khác:
Ngoài ra, Trần Văn Q khai nhận: Ngoài lần trộm cắp tài sản, bị phát hiện ngày 09/01/2024 nêu trên. Trong khoảng thời gian từ tháng 9/2023 đến ngày 07/01/2024, Q nhiều lần thực hiện hành vi trộm cắp dây điện tại kho vật tư số 4 của Công ty K sau đó đem bán tại cửa hàng thu mua phế liệu của bà Phùng Thị H2, sinh năm 1962, trú tại: xóm H, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Do Công ty K không phát hiện có vụ mất trộm tài sản nào khác, không xác định được thời gian, đặc điểm, số lượng tài sản bị mất trộm. Bà H2 và Q cũng không nhớ thời gian cụ thể, số lượng, đặc điểm tài sản mà Q bán, ngoài lời khai của Q thì không có tài liệu nào khác chứng minh hành vi trộm cắp tài sản trên. Quá trình điều tra không thu hồi được số tài sản mà Q khai trộm cắp và bán cho bà H2 nên không có căn cứ để xử lý đối với Q về hành vi trộm cắp tài sản trong khoảng thời gian trên nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ chưa có căn cứ xem xét xử lý đối với Q và bà H2.
Đối với việc Trần Văn Q khai sử dụng số tiền bán tài sản trộm cắp để đánh bạc qua mạng nhưng không nhớ đánh ở trang web nào. Kết quả xác minh các đối tượng Tạ Minh Đ1 và Nguyễn Tiến T2 là chủ sở hữu tài khoản ngân hàng mà Q chuyển tiền để đánh bạc nhưng tại Đ, xã T, huyện H, tỉnh Ninh Bình không có người tên Tạ Minh Đ1, còn T2 không có mặt tại địa phương nên chưa có căn cứ xem xét, xử lý.
Vì các lẽ nêu trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Điều 326 của Bộ luật tố tụng hình sự;
1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Điều 65 Điều 47 BLHS; Điều 106 Điều 136 BLTTHS; Nghị quyết số 326/2016/NQ - UBTVQH14 về mức thu, miễn giảm thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử phạt: Bị cáo Trần Văn Q 12 (mười hai) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 (hai mươi bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo cho UBND xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố tình vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án. Trường hợp bị cáo thực hiện hành vi phạm tội mới thì tùy trường hợp Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định của Điều 56 Bộ luật hình sự.
2. Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét.
3. Về vật chứng của vụ án:
+ Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại WAVE RSX, màu sơn: Đen xám, BKS: 20F1-54505, đã qua sử dụng mang tên Trần Văn Q;
+ Tịch thu tiêu hủy: 01 dao rọc giấy (có chuôi bằng nhựa màu xanh, lưỡi dao rộng 03cm); 01 cuộn băng dính, được niêm phong vào hộp bìa carton ký hiệu A4;
+ Trả lại cho bị cáo Trần Văn Q 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu Iphone 7 Plus, màu đen, điện thoại có lắp 01 sim số thuê bao 0981718745, tình trạng đã qua sử dụng nhưng được tạm giữ để đảm bảo việc thi hành án.
(Đặc điểm, tình trạng vật chứng như mô tả trong quyết định chuyển vật chứng số 61/QĐ - VKSĐT ngày 21/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên và các biên bản giao nhận vật chứng kèm theo).
4. Về án phí: Buộc bị cáo Trần Văn Q phải nộp 200.000đ án phí HSST sung công quỹ Nhà nước.
Án xử công khai sơ thẩm báo cho bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
THAY MẶT. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Kao Hoàng |
Bản án số 65/2024/HS-ST ngày 13/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 65/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
