|
TÒA ÁN NHÂN DÂN Q.HẢI CHÂU - TP ĐÀ NẴNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 65/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 12/9/2024
V/v "Ly hôn"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Hồng Loan
Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Hoàng Minh Trinh
- Bà Nguyễn Thị Cúc
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trần Minh Tâm - Cán bộ TAND quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ly Na - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 115/2024/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 6 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 8 năm 2024 và Thông báo về việc thay đổi thời gian mở lại phiên tòa số 115/2024/QĐST-HNGĐ ngày 28 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Bà Tạ Hoàng Thúy V, sinh năm 2004. Địa chỉ: E H, thành phố Q, tỉnh Bình Định.
* Bị đơn: Ông Huỳnh Quang N, sinh năm 1995. Địa chỉ: K H, tổ C phường B, quận H, thành phố Đà Nẵng.
(Bà V và ông N có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại phiên tòa hôm nay bà V có đơn xin xét xử vắng mặt, nhưng tại đơn khởi kiện nộp Tòa án ngày 14/5/2024, tại các bản tự khai ngày 10/5/2024 và ngày 05/9/2024 bà Tạ Hoàng Thúy V trình bày:
- Về hôn nhân: Bà Tạ Hoàng Thúy V kết hôn với ông Huỳnh Quang N vào năm 2023, có đăng ký kết hôn tại UBND phường B, quận H, thành phố Đà Nẵng trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại K H, tổ C phường B, quận H, thành phố Đà Nẵng là nhà ba mẹ ông N.
Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc, nhưng sau vài tháng thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình và quan điểm sống không hợp, vợ chồng không có tiếng nói chung nên thường xuyên cãi nhau. Mặc dù đã cố gắng hòa giải nhưng vẫn không có kết quả. Hiện nay vợ chồng sống ly thân. Nay, bà V xác định không còn tình cảm với ông N, mâu thuẫn không thể hàn gắn để sống chung nên đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông N.
- Về con chung: Bà Tạ Hoàng Thúy V xác định bà và ông N có 01 con chung tên là Huỳnh Ngọc Linh Đ, sinh ngày 13/02/2024.
Khi ly hôn, bà V có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông N phải cấp dưỡng nuôi con. Tuy nhiên tại bản tự khai của ông N ngày 29/8/2024 ông N trình bày tự nguyện cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng nên bà V đồng ý nhận.
- Về tài sản chung và nợ chung: Bà V trình bày tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa hôm nay ông N có đơn xin xét xử vắng mặt, nhưng bản tự khai ngày 29/8/2024 ông Huỳnh Quang N trình bày:
- Về hôn nhân: Ông N thống nhất với trình bày của bà V về thời gian và điều kiện kết hôn và nguyên nhân mâu thuẫn của vợ chồng. Trong quá trình chung sống đến năm đầu năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình và quan điểm sống không hợp, giữa vợ chồng không có tiếng nói chung gây nên những bất hòa, cãi vả nhau. Hiện nay vợ chồng sống ly thân. Nay, bà V có đơn xin ly hôn ông N, ông N đồng ý ly hôn vì mâu thuẫn vợ chồng không thể hàn gắn để sống chung, tình cảm vợ chồng không còn.
- Về con chung: Ông N xác định ông và bà V có 01 con chung tên là Huỳnh Ngọc Linh Đ, sinh ngày 13/02/2024.
Khi ly hôn, ông N đồng ý giao con chung cho bà V trực tiếp nuôi dưỡng. Ông N tự nguyện cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không có.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng phát biểu ý kiến: Thống nhất về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử cũng như việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng đã thực hiện theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng đề nghị HĐXX căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình tuyên xử:
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của của bà Tạ Hoàng Thúy V đối với ông Huỳnh Quang N.
- Về con chung: Ông N và bà V có 01 con chung tên là Huỳnh Ngọc Linh Đ, sinh ngày 13/02/2024.
Khi ly hôn, giao con chung cho bà V trực tiếp nuôi dưỡng. Ông N cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng.
- Về tài sản chung và nợ chung: Bà V không yêu cầu giải quyết nên không đề cập đến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Do nguyên đơn và bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa nên căn cứ khoản 1 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vụ án.
[2] Về nội dung tranh chấp:
2.1 Về hôn nhân : Bà Tạ Hoàng Thúy V kết hôn với ông Huỳnh Quang N vào năm 2023, có đăng ký kết hôn tại UBND phường B, quận H, thành phố Đà Nẵng trên cơ sở tự nguyện. Đây là hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Tại phiên tòa hôm nay bà V và ông N có đơn xin xét xử vắng mặt nhưng quá trình giải quyết vụ án bà V xin ly hôn với ông N vì cho rằng mâu thuẫn vợ chồng kéo dài, không thể hàn gắn để sống chung, tình cảm của bà V dành cho ông N không còn, ông N đồng ý ly hôn với bà V.
Xét yêu cầu của bà V và ý kiến của ông N thì thấy: Quá trình chung sống bà V và ông N đã phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không có tiếng nói chung, mỗi người sống một nơi, mặc dù đã hàn gắng nhưng không có kết quả, phù hợp với biên bản xác minh tại địa phương hiện nay ông N và bà V không còn chung sống với nhau.
Xét thấy tình trạng hôn nhân giữa bà V và ông N trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà V là phù hợp với Điều 51 và 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
2.2 Về con chung: Bà V và ông N xác định 01 con chung tên là Huỳnh Ngọc Linh Đ, sinh ngày 13/02/2024.
Bà V và ông N đều trình bày: Khi ly hôn, giao con chung cho bà V trực tiếp nuôi dưỡng. Ông N tự nguyện cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng.
Xét yêu cầu xin được nuôi con của bà V và ý kiến của ông N thì thấy: Hiện nay con chung của bà V và ông N mới 07 tháng tuổi, cần được chăm sóc trực tiếp của người mẹ, bà V đang trực tiếp nuôi con và có nguyện vọng được tiếp tục nuôi con chung, còn ông N cũng đồng ý, do đó cần giao con chung cho bà V trực tiếp nuôi dưỡng, ông N có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng khi Bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi con chung thành niên (đủ 18 tuổi) là phù hợp với các Điều 81,82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình.
Quyền và nghĩa vụ đối với con chung các đương sự được thực hiện theo quy định của pháp luật.
Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
2.3 Về tài sản chung và nợ chung: Bà V trình bày tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết, còn ông N xác định không có tài sản chung, không nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không đề cập đến.
[3] Về án phí: Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm bà V phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Tạ Hoàng Thúy V về việc “Ly hôn” đối với ông Huỳnh Quang N.
Xử:
- Về hôn nhân: Cho bà Tạ Hoàng Thúy V ly hôn với ông Huỳnh Quang N.
-
Về con chung: Bà Tạ Hoàng Thúy V và ông Huỳnh Quang N có 01 con chung tên là Huỳnh Ngọc Linh Đ, sinh ngày 13/02/2024.
Giao con chung Huỳnh Ngọc Linh Đ, sinh ngày 13/02/2024 cho bà V trực tiếp nuôi dưỡng. Ông N cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng kể từ khi Bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi con chung thành niên (đủ 18 tuổi).
Quyền và nghĩa vụ đối với con chung các đương sự được thực hiện theo quy định của pháp luật.
Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Về tài sản chung và nợ chung: Bà Tạ Hoàng Thúy V và ông Huỳnh Quang N không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không đề cập đến.
- Án phí HNGĐ-ST 300.000 đồng bà Tạ Hoàng Thúy V phải chịu nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng mà bà V đã nộp theo biên lai thu số 0000245 ngày 23 tháng 5 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng. Bà V đã nộp đủ án phí.
Án xử công khai sơ thẩm, đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được (hoặc niêm yết) bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Phạm Thị Hồng Loan |
Bản án số 65/2024/HNGĐ-ST ngày 12/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về ly hôn
- Số bản án: 65/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà V xin ly hôn ông N
