|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ TỈNH THÁI BÌNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 65/2024/HNGĐ-ST
Ngày 12 tháng 8 năm 2024
“V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con chung"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Quốc Doanh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Ông Trần Quang Đương;
- 2. Ông Nguyễn Gia Khải.
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Gien Ny - Thư ký Toà án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Vũ Quỳnh Lam - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 98/2024/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 5 năm 2024 về tranh chấp hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 58A/2024/QĐXXST - HNGĐ ngày 24/7/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1989
- Nơi cư trú: Thôn H, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình.
- Bị đơn: Anh Vũ Bá D, sinh năm 1986
- Đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn H, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình.
- Hiện đang chấp hành án tại đội 16, phân trại 6, trại giam T1.
- Địa chỉ: xã X, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
(Chị T có mặt, anh D đều có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, các tài liệu chứng cứ đã xuất trình thì nguyên đơn chị Nguyễn Thị T có yêu cầu khởi kiện và trình bày tại phiên tòa như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Vũ Bá D có tự do, tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn vào ngày 13/11/2017 tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại xã A và lao động tự do. Quá trình chung sống đến tháng 02 năm 2023 giữa hai vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm sống. Anh D nghiện ma túy bị xử phạt tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy và đang chấp hành án tại Đội 16, phân trại số F, trại giam T1 đóng tại xã X, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; vợ chồng đã ly thân từ tháng 02 năm 2023 cho đến nay. Nay chị thấy tình cảm vợ chồng
2
không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Vũ Bá D.
Về con chung: Chị và anh D có 01 con chung là Vũ Khánh L, sinh ngày 25/02/2019. Ly hôn chị T đề nghị được nuôi con chung và không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con chung, hiện tại chị không có thai nghén gì. Chị T đang làm lao động tự do, thu nhập một tháng là 10.000.000 đồng/tháng.
Về tài sản chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai, đơn xin xét xử vắng mặt thì bị đơn anh Vũ Bá D trình bày như sau: Về quá trình, điều kiện kết hôn, như chị T trình bày như trên là đúng. Quá trình vợ chồng chung sống có phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, anh D có nghiện ma túy và đang chấp hành án tại Trại giam T2, tỉnh Thanh Hóa. Vợ chồng ly thân từ năm 2023 cho đến nay mỗi người sống một nơi. Nay chị T có đơn xin ly hôn thì anh D nhất trí ly hôn.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Vũ Khánh L, sinh ngày 25/02/2019, hiện con chung đang ở cùng chị T. Ly hôn anh D đề nghị giao con chung cho chị T nuôi dưỡng, anh không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ chung, anh không yêu cầu giải quyết.
Tại biên bản xác minh với gia đình anh Vũ Bá D thể hiện: Chị Nguyễn Thị T và anh Vũ Bá D là vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A vào ngày 13/11/2017. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống tại xã A và lao động tự do. Quá trình chung sống vợ chồng chị T, anh D có mâu thuẫn như thế nào gia đình không rõ, đầu năm 2023 anh D bị xử phạt tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Nay chị T có đơn xin ly hôn đề nghị Tòa án giải quyết theo nguyện vọng các bên. Về con chung: Chị T, anh D có 01 con chung là cháu Vũ Khánh L, sinh ngày 25/02/2019, đề nghị giải quyết theo nguyện vọng các bên. Về tài sản chung: không có.
Tại biên bản xác minh với cơ sở thôn H, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình thể hiện:
Chị Nguyễn Thị T và anh Vũ Bá D là vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A vào ngày 13/11/2017. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống tại gia đình anh D. Quá trình chung sống vợ chồng chị T, anh D có mâu thuẫn như thế nào thì cơ sở không rõ, đầu năm 2023 anh D bị xử phạt tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Hiện nay chị T và anh D đã sống ly thân mỗi người một nơi. Nay chị T có đơn xin ly hôn đề nghị Tòa án giải quyết theo nguyện vọng các bên. Chị T, anh D có 01 con chung là Vũ Khánh L, sinh ngày 25/02/2019, đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật. Về tài sản chung: Cơ sở thôn không nắm rõ.
Tại phiên toà, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình có quan điểm cho rằng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng pháp luật trong quá trình tham gia tố tụng. Về ý kiến giải quyết vụ án, Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 51, 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình giải quyết theo hướng: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Ngoài ra, nguyên đơn
3
phải nộp án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Đại diện Viện kiểm sát không có yêu cầu, kiến nghị gì thêm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Tranh chấp ly hôn giữa chị Nguyễn Thị T và anh Vũ Bá D là tranh chấp hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn có địa chỉ thường trú tại xã A, huyện Q nên Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng như: Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo về việc thu thập được tài liệu, chứng cứ; Quyết định đưa vụ án ra xét xử, cho bị đơn. Bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, căn cứ vào khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh D.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện việc thu thập chứng cứ, xác minh về tình trạng hôn nhân và địa chỉ của bị đơn, vì vậy Viện kiểm sát tham gia phiên toà là đúng theo Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy, quan hệ hôn nhân của chị T, anh D được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình vào ngày 13/11/2017 là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại xã A, huyện Q và lao động tự do. Quá trình chung sống đến tháng 02/2023 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống, anh D có nghiện ma túy và đang chấp hành án tại Trại giam T2, tỉnh Thanh Hóa vợ chồng đã ly thân từ năm 2023 cho đến nay không hỏi han, chia sẻ với nhau. Quá trình Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án, mặc dù biết được việc chị T đề nghị ly hôn nhưng anh D cũng đồng ý ly hôn. Điều này chứng tỏ anh D không có thiện chí hòa giải để vợ chồng đoàn tụ. Như vậy có cơ sở để xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa chị T, anh D đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, do đó Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị T, xử cho chị được ly hôn anh D là phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
[3] Về quan hệ con chung: Chị Nguyễn Thị T và anh Vũ Bá D có 01 con chung là cháu Vũ Khánh L, sinh ngày 25/02/2019. Ly hôn anh, chị thống nhất giao con chung cho chị T nuôi dưỡng, anh D không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Xét nguyện vọng nuôi con chung của chị T là chính đáng, kể từ khi vợ chồng ly thân, một mình chị T nuôi dưỡng, chăm sóc con chung phát triển bình thường. Vì vậy, Hội đồng xét xử cần giao con chung cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, anh D không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh D có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung.
[4] Về tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Thị T, anh Vũ Bá D không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
[5] Về án phí và quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị T phải nộp án phí dân sự sơ thẩm; các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
4
Áp dụng các Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1, khoản 3 Điều 228 và Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn anh Vũ Bá D.
2. Về quan hệ con chung: Xử giao cho chị Nguyễn Thị T trực tiếp nuôi dưỡng con chung Vũ Khánh L, sinh ngày 25/02/2019. Anh Vũ Bá D không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh D có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung.
Hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, yêu cầu về cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
3. Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra giải quyết.
4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) Chị T đã nộp theo Biên lai thu số 0004727 ngày 17/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình được chuyển thành tiền án phí ly hôn sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (Ngày 12/8/2024). Anh Vũ Bá D có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết hợp lệ bản án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Quốc Doanh |
Bản án số 65/2024/HNGĐ-ST ngày 12/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 65/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hôn nhân gia đình giữa chị T và anh D
