Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ SƠN TÂY TP HÀ NỘI

Bản án số: 65/2024/HS-ST

Ngày 12 tháng 7 năm 2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Ngô Quốc Huy.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Huệ.

Ông Đinh Quang Hòa.

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Tiến Dũng, Thư ký Toà án nhân thị xã Sơn Tây, Thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây, Thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Ngô Thị Minh Thuận, Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 7 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây, TP. mở phiên tòa xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 62/2024/TLST-HS, ngày 20 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2024/QĐXXST-HS, ngày 01 tháng 7 năm 2024, đối với bị cáo:

Doãn Tiến L, sinh năm 1983; ĐKHKTT: Số D đường Đ, phường X, thị xã S, TP.; Nơi ở Khu K, xã T, huyện A TP Hải Phòng Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Doãn Văn L1 (đã chết) và bà Đặng Thị T, sinh năm 1958; Vợ: Trần Thị Thanh B, sinh năm 1981, con: Có 03 con, con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2024; Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân:

- Ngày 25/01/2005, Tòa án nhân dân Quận 9, TP Hồ Chí Minh xử phạt 07 năm tù về tội cướp tài sản; 03 năm tù về tội cướp giật tài sản. Tổng hợp hình phạt là 10 năm tù (ngày 01/9/2009 được đặc xá).

- Ngày 19/8/2017, Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây xử phạt 07 năm tù về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (ngày 23/7/2014, L thuê xe ô tô rồi đem cầm cố lấy tiền ăn tiêu sau đó bỏ trốn, đã chấp hành án xong về địa phương ngày 27/01/2022)

Bị can bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/05/2024, hiện đang tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thị xã S. (Có mặt).

Bị hại: Ông Hà Thọ H, sinh năm 1974 (Có đơn xin xét xử vắng mặt);

Địa chỉ: Số A thôn K, xã K, thị xã S, TP.;

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Đặng Thị T, sinh năm 1958; (Có mặt)

2. Chị Trần Thị Thanh B, sinh năm 1981; (Có mặt)

Cùng địa chỉ: Số D đường Đ, phường X, thị xã S, TP.;

Người làm chứng:

1. Anh Đỗ L2, sinh năm 1983; ( Vắng mặt)

Địa chỉ: Số A ngõ A đường T, phường S, thị xã S, TP.;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Doãn Tiến L, sinh năm 1983, đăng ký HKTT ở số D đường Đ, phường X, thị xã S, TP Hà Nội có mối quan hệ bạn bè với anh Đỗ L2, sinh năm 1983, ở số A phố T, phường S, thị xã S. Ngày 19/6/2014, qua sự bảo lãnh của anh L2, Doãn Tiến L đã thuê được của anh Hà Thọ H, sinh năm 1974, ở thôn K, xã K, thị xã S chiếc xe ôtô nhãn hiệu MAZDA PREMACY, màu sơn trắng, BKS: 30A- 00879, mục đích để làm phương tiện đi lại. Hai bên thỏa thuận, thời gian thuê 01 tháng (từ ngày 19/6/2014 đến 19/7/2014), giá thuê 10.000.000 đồng/tháng. Sau khi thỏa thuận xong, anh H đọc cho anh L viết hợp đồng thuê xe nhưng tiêu đề là “Hợp đồng mượn xe” (do anh H không có đăng ký kinh doanh), trong thời gian thuê xe Lâm phải quản lý, không để hư hỏng, mất mát tài sản của xe, không được mang xe đi cầm cố, bán hoặc tặng cho người khác nếu không được sự đồng ý, cho phép của anh H. Nếu vi phạm những nghĩa vụ trên thì L phải hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật. Anh H và L cùng ký vào hợp đồng, anh L2 ký người chứng kiến và hợp đồng giao cho anh H giữ. Sau đó, anh H giao xe ôtô, chìa khóa cùng toàn bộ giấy tờ xe cho L quản lý, sử dụng. L đã điều khiển chiếc xe ôtô này ra về và sử dụng xe vào việc đi lại của cá nhân.

Đến ngày 12/7/2014, L điều khiển chiếc xe thuê được của anh H đi chơi tại khu vực xã B, huyện T, TP Hà Nội. Khi L đang ngồi uống nước tại quán nước bên đường khu vực ngã tư B thì gặp K (là người đang cho L vay số tiền 40.000.000 đồng từ tháng 3/2014, lãi 2000 đồng/1.000.000 đồng/1 ngày nhưng từ khi vay L chưa trả được tiền gốc, lãi cho K). Lúc này, K yêu cầu L phải trả nợ nhưng do không có tiền, L xin khất, K không đồng ý. Thấy L đi xe ôtô nên K đã bảo L để lại xe ôtô, khi nào có tiền trả nợ thì đến lấy xe về. Lúc đó, L đã để lại chiếc xe ôtô thuê của anh H cho K để gán nợ, đảm bảo cho khoản vay 40.000.000 đồng mà không thông báo cho anh H, không được sự đồng ý của anh H. Sau đó, L không về nhà mà đi nhiều nơi để ở và kiếm sống, không ở cố định một nơi nào. Đến hạn trả xe cho anh H, L không liên lạc, không đến gặp K để tìm cách lấy lại xe ôtô trả cho anh H cũng không liên lạc với anh H, anh L2 để giải thích, xin gia hạn mà trốn tránh, không liên lạc với ai, không về nhà để giải quyết vụ việc. Anh H và anh L2 đã gọi điện nhiều lần nhưng sau đó L đều không nghe máy nên anh H và anh L2 buộc phải đến nhà tìm L thì biết L đã bỏ trốn vì L không có khả năng trả nợ và chuộc xe về trả cho anh H. Doãn Tiến L thừa nhận với mẹ là bà Đặng Thị T (sinh năm 1957), với vợ là chị Trần Thị Thanh B (sinh năm 1981) về việc thuê xe của anh H nhưng đã gán nợ cho K và L đã nhờ bà T, chị B đứng ra trả nợ cho K để lấy xe ôtô về cho anh H. Do không đủ tiền nên bà T và chị B đã phải vay của bà Dương Thị L3 (sinh năm 1957, ở T, S) số tiền 20.000.000 đồng để trả nợ cho L. Đến ngày 12/8/2014, bà T, chị B đã tìm, gặp K trả K 40.000.000 đồng mà L nợ K trước đó, lấy lại chiếc xe ô tô rồi trả lại cho anh H. Thời điểm đó, L không về nhà, không đi cùng, cũng không hề liên lạc gì với anh H và anh L2. L được gia đình thông báo đã trả tiền L nợ của K và lấy xe ôtô về trả cho anh H, cũng đã thanh toán tiền L thuê xe cho anh H. Khi này, L tiếp tục sinh sống và làm thuê kiếm sống tại địa bàn TP Hải Phòng.

Cơ quan điều tra Công an thị xã S đã quyết định trưng cầu định giá tài sản chiếc xe ô tô Lâm thuê của anh H. Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã S kết luận: 01 (một) chiếc xe ô tô Mazda Premacy màu trắng, BKS 30A-008.79, số khung CP10P2MH000372, số máy FP829706, giá trị: 160.000.000 đồng.

Ngày 09/5/2024, biết không thể trốn tránh, Doãn Tiến L đã đến Công an thị xã S đầu thú, khai nhận hành vi của mình và giao nộp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Pro, vỏ ngoài màu trắng, bên trong lắp sim số 0934228383, số imei: 355015320724049, máy đã qua sử dụng.

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra- Công an thị xã S đã thực hiện cho anh H, anh L2 và Doãn Tiến L xác định bản photo “Hợp đồng mượn xe” do L viết khi thuê xe của anh H. Tất cả đều xác nhận và khẳng định bản photo “Hợp đồng mượn xe” là do L viết, có chữ ký của các bên, anh L2 và hoàn toàn trùng khớp với bản gốc.

Cơ quan điều tra cho anh Hà Thọ H, anh Đỗ L2 nhận dạng qua ảnh đối với Doãn Tiến L. Các anh đều khẳng định và nhận ra chính xác người trong ảnh là Doãn Tiến L. Thực hiện đối chất giữa Doãn Tiến L và anh Hà Thọ H; giữa L và anh Đỗ Long. Tất cả đều nhận ra nhau, xác định đúng các nội dung thời gian, địa điểm, sự việc L thuê xe của anh H, có sự bảo lãnh và chứng kiến của anh L2 và các tình tiết khác có liên quan.

Anh Hà Thọ H đã nhận lại xe ô tô và số tiền cho thuê xe, anh không có yêu cầu đề nghị gì khác. Được một thời gian, anh H đã bán lại chiếc xe ô tô trên cho người khác. Ngày 31/5/2024, anh H có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với Doãn Tiến L. Cơ quan điều tra đã tiến hành cho Doãn Tiến L, anh H và anh L2 xác định hình ảnh 01 chiếc xe ôtô có đặc điểm tương đồng với xe ôtô do anh H cho anh L thuê. Các anh đều xác nhận và khẳng định hình ảnh chiếc xe ôtô do Cơ quan điều tra cung cấp có đặc điểm tương đồng và giống với chiếc xe ôtô nhãn hiệu Mazda Premacy, màu sơn trắng, BKS 30A-008.79 là xe Lâm thuê của anh H.

Đối với người tên K (khoảng sinh năm 1970, ở xã Y, T): Công an xã Y, huyện T đã tiến hành rà soát công dân, đối tượng trên địa bàn nhưng không xác định được thông tin của người nam giới tên K này có phải là công dân trên địa bàn hay không.

Đối với số tiền 40.000.000 đồng trả nợ cho K là tiền của bà T, chị B và vay của bà L3. Đến nay, bà T, chị B chưa trả số tiền đó cho bà L3. Bà L3 không có ý kiến gì. Bà T, chị B không yêu cầu gì đối với L về số tiền trên.

Đối với chiếc điện thoại thu giữ của L, đã xác định là điện thoại do L mua cũ lại từ giữa năm 2023 sử dụng làm phương tiện liên lạc hàng ngày, không liên quan đến vụ án.

Về vật chứng: 01 điện thoại Iphone 13 Pro, vỏ ngoài màu trắng được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Sơn Tây để xử lý theo quy định của pháp luật.

Tại bản cáo trạng số: 64/CT-VKS, ngày 18/6/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây đã truy tố bị cáo Doãn Tiến L về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 140 Bộ luật hình sự năm 1999. Tại phiên tòa hôm nay: Bị cáo Doãn Tiến L thừa nhận hành vi phạm tội của mình như trên, bị cáo ăn năn hối cải, đề nghị Tòa án giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm d khoản 2 Điều 140 Bộ luật Hình sự năm 1999, được sửa đổi bổ sung năm 2009; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015; Xử phạt Doãn Tiến L từ 24 đến 30 tháng tù

Về vật chứng: Trả cho bị cáo 01 điện thoại Iphone 13 Pro, vỏ ngoài màu trắng thu giữa của bị cáo.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Về tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về tội danh:

Tại phiên tòa bị cáo Doãn Tiến L đã khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng nêu. Bởi vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Ngày 19/6/2014, Doãn Tiến L đã thuê chiếc xe ôtô nhãn hiệu MAZDA PREMACY, màu sơn trắng, BKS 30A- 00879, có giá trị 160 triệu đồng của anh Hà Thọ H để làm phương tiện đi lại. Ngày 12/7/2014, L đã gán chiếc xe ô tô cho người tên K để đảm bảo cho khoản vay 40 triệu đồng trước đó (do L không có tiền trả nợ cho K), L không thông báo và anh H cũng không biết, không đồng ý cho L cầm cố chiếc xe. Sau đó, L bỏ trốn nên không trả lại được xe ô tô cho anh H. Gia đình L phải đi chuộc xe ô tô và trả nợ anh H cho L. Hành vi của Doãn Tiến L đã cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 140 Bộ luật hình sự năm 1999. Viện Kiểm sát nhân nhân thị xã S truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật. Đối với người tên K (khoảng sinh năm 1970, ở xã Y, T): Công an xã Y, huyện T đã tiến hành rà soát công dân, đối tượng trên địa bàn nhưng không xác định được thông tin của người nam giới tên K này có phải là công dân trên địa bàn hay không, Cơ quan Điều tra không làm rõ, xử lý được với hành vi của K nên HĐXX không xem xét.

[3]. Tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:

Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu của công dân được pháp luật bảo vệ. Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhân thân xấu, từng bị xử lý hình sự về tội phạm xâm phạm đến quyền sở hữu nhưng vẫn thực hiện hành vi phạm tội nên cần phải xét xử nghiêm minh, áp dụng hình phạt nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội, để cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời để giáo dục riêng và răn đe phòng ngừa chung.

[4]. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội và tỏ thái độ ăn năn hối cải; Bị cáo đầu thú, gia đình bị cáo đã khắc phục hậu quả chuộc lại xe để trả lại cho bị hại, bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, bị cáo có bố đẻ có nhiều thành tích trong bảo vệ an ninh trật tự tại địa phương và em gái có thành tích trong lao động, sản xuất, có con còn nhỏ nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ về hình phạt cho bị cáo theo điểm s, điểm b, khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng: Không có.

[5]. Về hình phạt bổ sung, xét thấy bị cáo có con nhỏ không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 175 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

[6]. Về dân sự: Do bị hại là ông Hà Thọ H không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại; Bà T và chị B cùng không có yêu cầu L thanh toán số tiền bà T và chị B trả nợ thay cho L nên HĐXX không xem xét.

[7] Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 điện thoại Iphone 13 Pro, vỏ ngoài màu trắng quá trình điều tra không liên quan đến nội dung vụ án nên cần trả lại cho bị cáo.

[8]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về Tội danh: Tuyên bố bị cáo Doãn Tiến L phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”
  2. Về điều luật: Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 140 Bộ luật Hình sự năm 1999, được sửa đổi bổ sung năm 2009, điểm s, điểm b, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 và Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015.

    Xử phạt: Doãn Tiến L 24 ( Hai mươi bốn ) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 09/5/2024.

  3. Về xử lý vật chứng: Trả lại bị cáo Doãn Tiến L 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Pro, vỏ ngoài màu trắng, số IMEI: 355015320724049, điện thoại đã cũ đã qua sử dụng. (Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/6/2024 giữa Công an thị xã S và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Sơn Tây)
  4. Về án phí: Căn cứ khoản 1, 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 điều 22 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

    Bị cáo Doãn Tiến L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày Bản án được tống đạt, niêm yết hợp lệ. Viện Kiểm sát được quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Toà án nhân dân TP. Hà Nội;
  • - Viện KSND TX. Sơn Tây;
  • - Công an TX. Sơn Tây;
  • - Chi cục THADS TX. Sơn Tây;
  • - Bị cáo; Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu VP.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Ngô Quốc Huy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 65/2024/HS-ST ngày 12/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự (lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản)

  • Số bản án: 65/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: L lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger