|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU ĐỨC TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 65/2024/HS-ST Ngày: 12/6/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU ĐỨC, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hoàng Anh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Huy Xuân
Bà Trần Thị Hạnh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bảo Anh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Hồng P – Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 6 năm 2024, trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 38/2024/TLST - HS ngày 09/4/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 42/2024/QĐXXST - HS ngày 08/5/2024; Thông báo hoãn phiên tòa số 07/TB-TA ngày 17/5/2024, đối với bị cáo:
- Bị cáo Nguyễn Hồng T, tên gọi khác: Không; sinh năm 1984 tại Bà Rịa - Vũng Tàu; Hộ khẩu thường trú: khu phố H, thị trấn N, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Ngọc B, sinh năm 1953 (Chết) và bà Võ Thị N, sinh năm 1954; Bị cáo có vợ tên Nguyễn Thị Nguyệt N1, sinh năm 1979 và 02 con (Sinh năm 2009 và 2012); Tiền án, Tiền sự: Không; Bị cáo được tại ngoại. (Có mặt)
- Bị hại: Cháu Nguyễn Ngọc Thảo N2, sinh năm 2006 (chết trong vụ án)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Trương Hữu L (T1), sinh năm 1995; Địa chỉ: Thôn Đ, xã C, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (Có mặt)
- Công ty TNHH T5. Địa chỉ: Tổ C, ấp L, xã B, huyện C, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu. Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Quốc T2, sinh năm 1999; Địa chỉ: Tổ C, ấp L, xã B, huyện C, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu. (Vắng mặt)
- Công ty TNHH T6. Địa chỉ: B N, quận H, thành phố Đà Nẵng. Người đại diện theo pháp luật: Bà Lê Thị Mỹ Á, sinh năm 1972; Địa chỉ: I L, tổ C, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng. (Vắng mặt)
- Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1985; Địa chỉ: Tổ D, khu phố K, thị trấn N, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (Vắng mặt)
- Ông Nguyễn Tấn Nhất D, sinh năm 1993; Địa chỉ: A L1+gác lửng, P, phường A, Quận E, thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt)
Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Nguyễn Đức M, sinh năm 1968; bà Văn Thị Kim C, sinh năm 1972 (Cha mẹ ruột bị hại); Nơi cư trú: Thôn H, xã C, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 20 giờ 10 phút ngày 01/12/2023, Nguyễn Hồng T điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 43S-3664 chở theo ông Nguyễn Văn H và ông Nguyễn Tấn Nhất D lưu thông trên Quốc Lộ E theo hướng xã C đi thị trấn N. Khi đến Km 07+800m thuộc thôn T, xã K, huyện C thì va chạm vào xe máy biển kiểm soát 72FB – 8832 do cháu Nguyễn Ngọc Thảo N2 (sinh năm 2006) đang điều khiển theo hướng ngược lại. Sau đó xe ô tô tiếp tục va chạm với xe ô tô biển kiểm soát 72A – 418.89 do ông Trương Hữu L điều khiển lưu thông phía sau xe máy. Hậu quả: Cháu Nguyễn Ngọc Thảo N2 tử vong; gây hư hỏng 02 xe ô tô và 01 xe máy.
Kết quả khám nghiệm hiện trường xác định:
Vụ tai nạn giao thông xảy ra tại Km 07+800m trên Quốc lộ E thuộc thôn T, xã K, huyện C. Mặt đường trải nhựa bê tông, rộng 7m, có vạch sơn đứt quảng màu vàng ở giữa phân chia thành hai chiều xe chạy riêng biệt; trước khu vực xảy ra tai nạn là đoạn đường cong có biển báo hiệu W201a và W201b cảnh báo.
Chọn cột điện số HT/2/15 làm mốc cố định, chọn mép đường nhựa bên phải hướng thị trấn N đi C làm lề chuẩn để đo các vị trí, dấu vết để lại tại hiện trường như sau: Khu vực va chạm (A1) là điểm va chạm giữa xe ô tô biển kiểm soát 43S-3664 và xe máy biển kiểm soát 72FB – 8832 được xác định nằm trong phần đường hướng thị trấn N đi C, cách lề chuẩn 2,1m; cách khu vực va chạm A2 là 4,2m, cách trục bánh sau bên trái của xe ô tô biển kiểm soát 72A - 418.89 là 4,2m.
Khu vực va chạm (A2) là điểm va chạm giữa xe ô tô biển kiểm soát 43S-3664 và xe ô tô biển kiểm soát 72A-418.89 được xác định nằm trong phần đường hướng thị trấn N đi C, cách lề 2,6m, cách khu vực va chạm A1 4,2m, cách trục bánh sau bên trái xe ô tô biển kiểm soát 72A - 418.89 là 4,2m.
Tại hiện trường phát hiện các dấu vết phương tiện như sau:
Trước thời điểm xảy ra tai nạn, xe ô tô biển kiểm soát 43S-3664 lưu thông theo hướng xã C đi thị trấn N. Sau khi xảy ra tai nạn giao thông, xe lật nghiêng bên phải, đầu xe hướng về xã C, đuôi xe hướng về thị trấn N, khoảng cách từ trục bánh trước vào lề là 4,1m, từ trục bánh sau vào lề là 5,7m; khoảng cách đến vết cày 2 là 36,5m, khoảng cách đến trục bánh sau bên trái xe ô tô biển kiểm soát 72A - 418.89 là 53,2m, khoảng cách đến xe mô tô biển kiểm soát 72X2-6437 là 32,8m, đến cột điện HT/2/15 là 4,3m.
Xe ô tô biển kiểm soát 72A - 418.89 trước khi xảy ra tai nạn lưu thông theo hướng Ngãi Giao đi C. Sau khi tai nạn xe đậu sát lề đường hướng Ngãi Giao đi C, đầu xe hướng về xã C, đuôi xe hướng về N. Khoảng cách từ trục bánh trước vào lề phải là 1,2m, trục bánh sau vào lề phải là 1,2m. Cách khu vực đụng A1 là 4,2m, cách vết hằn của bánh xe là 1,2m, cách xe máy biển kiểm soát 72FB-8832 là 1,5m, cách xe ô tô biển kiểm soát 43S- 3664 là 53,2m.
Xe máy biển kiểm soát 72FB-8832 trước khi xảy ra tai nạn lưu thông theo hướng Ngãi Giao đi C, sau khi xảy ra tai nạn xe nằm dưới lề đường hướng Ngãi Giao đi C, đầu xe hướng vào rẫy người dân bên hường, đuôi xe hướng ra phần đường. Khoảng cách từ trục bánh trước vào lề là 2,5m, từ trục bánh sau vào lề là 1,4m; khoảng cách đến trục bánh trước bên phải xe ô tô biển kiểm soát 72A - 418.89 là 1,5m; đến vết cày số 2 là 4,6m.
Xe mô tô biển kiểm soát 72X2 - 6367 trước khi xảy ra tai nạn được để trên thùng của xe ô tô biển kiểm soát 43S- 3664, sau khi xảy ra tai nạn xe rơi xuống đường, vị trí xe nằm sát lề đường hướng xã C đi thị trấn N, đầu xe hướng vào lề đường, đuôi xe hướng qua phần đường ngược chiều. Khoảng cách từ trục bánh trước vào lề là 7,4m; trục bánh sau vào lề là 6,6m, cách miếng lót thùng sau của xe ô tô biển kiểm soát 43S- 3664 là 5,7m.
Vệt bánh xe ô tô biển kiểm soát 43S- 3664 nằm sát lề đường hướng xã C đi thị trấn N dài 71,3m, đầu vết hằn cách lề là 6,5m, đuôi vết hằn cách lề 4,1m.
Vết cày 2 được xác định nằm trên phần đường xã C đi thị trấn N, cách lề 6,4m, cách xe ô tô biển kiểm soát 43S- 3664 là 36,5m cách vết hằn của bánh xe ô tô biển kiểm soát 72A - 418.89 là 6,7m.
Vết cày 1 được xác định nằm trên phần đường hướng thị trấn N đi xã C, cách lề chuẩn 1,2m, cách xe máy biển kiểm soát 72FB- 8832 là 4,6m.
Vệt hằn bánh xe ô tô biển kiểm soát 72A - 418.89 được xác định nằm trên phần đường hướng thị trấn N đi xã C dài 6,7m, đầu vết hằn cách xe ô tô biển kiểm soát 72A - 418.89 là 1,2m, đuôi vết hằn các xe ô tô biển kiểm soát 72A - 418.89 là 0,8m.
Tấm lót nhựa thùng sau của xe ô tô biển kiểm soát 43S- 3664 nằm trong rẫy người dân bên phần đường xã C đi thị trấn N cách lề 4,2m, cách xe mô tô biển kiểm soát 72X2 - 6347 là 5,7m.
Kết quả khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn:
Theo Kết luận giám định vùng va chạm giữa các phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông và tốc độ của xe ô tô biển kiểm soát 43S -3664 số 09/KL-KTHS-DVCH ngày 04/01/224 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:
“1. Dấu vết trượt xước mất sơn màu xám trắng, mất kim loại tại thùng xe phía sau, bên trái, ở xe ô tô biển kiểm soát 43S-3664, có chiều từ sau ra trước, từ trái sang phải (ảnh 5,7 trong bản ảnh giám định 1), phù hợp với dấu vết biến dạng, trượt xước mất kim loại, trượt xước bám dính chất màu xám trắng (dạng sơn), tại đầu tay xách yên, bên trái, ở xe máy biển kiểm soát 72FB-8832, có chiều từ trái sang phải, trừ trước về sau (Ảnh 6,8 trong bản ảnh giám định 1).
- Dấu vết biến dạng, trượt xước mất sơn màu xám trắng, hằn và mất kim loại tại góc dưới thùng xe phía sau, bên trái, ở xe ô tô biển kiểm soát 43S - 3664, có chiều từ sau ra trước, từ trái sang phải, (ảnh 5,9 trong bản ảnh giám định 1) phù hợp với dấu vết cong về sau, biến dạng, trượt xước mất kim loại và bám dính chất màu xám trắng (dạng sơn) tại giảm xóc sau, bên trái, ở xe máy biển số 72FB - 8832, có chiều từ trước về sau, từ trái sang phải (Ảnh 6, 10 trong bản ảnh giám định 1).
2. Dấu vết biến dạng, trượt xước mất sơn màu xám trắng, mất kim loại tại cạnh sau và mặt ngoài thùng xe, bên trái, ở xe ô tô biển kiểm soát 43S-3664, có chiều từ sau ra trước, từ trái sang phải (Ảnh 5,7 trong bản ảnh giám định 2) phù hợp với dấu vết biến dạng, gãy vỡ, hằn xước mất kim loại, mất sơn màu trắng tại đầu xe, bên trái, ở xe ô tô biển kiểm soát 72A – 418.89, có chiều từ trái sang phải, từ trước về sau (Ảnh 6,8,9 trong bản ảnh giám định 2).
3. Không phát hiện dấu vết va chạm giữa xe máy biển kiểm soát 72FB-8832 với xe ô tô biển kiểm soát 72A – 418.89.
4. Không có cơ sở xác định tốc độ của xe ô tô biển kiểm soát 43S – 3664 ngay tại thời điểm xảy ra va chạm.
5. Các dấu vết được mô tả trong “biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến vụ TNGT” do Công an huyện C lập, không thể hiện rõ đặc điểm, không đủ yếu tố giám định (BL 31-32)”
Tại Bản giám định tử thi số 454/KIGĐTT-PC09 ngày 29/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:
1. Các kết quả chính:
- Kết quả khám nghiệm: Tụ máu dưới da đầu vùng chẩm hai bên. Vỡ sợ chẩm hai bên theo đường khớp sọ, kích thước 15cmx 2cm. Chảy máu lan tỏa dưới màng cứng hai bán cầu đại não. Dập não rải rác thủy chẩm hai bên. Não phù. Gãy 1/3 trên xương cánh tay trái. Gãy 1/3 trên đùi trái.
2. Kết luận nguyên nhân chết: Nguyễn Ngọc Thảo N2 chết do đa chấn thương.
- Kết luận khác:
+ Vật tác động gây tử vong là vật tày gây nên, tác động trực tiếp vào vùng đầu cơ thể nạn nhân hướng từ sau ra trước.
+ Trong máu tử thi Nguyễn Ngọc Thảo N2, không tìm thấy E; Không tìm thấy Ma T3.(BL 26).
Kết quả điều tra xác định nguyên nhân xảy ra tai nạn giao thông: Nguyên nhân xảy ra tai nạn là do Nguyễn Hồng T điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 43S-3664 lưu thông không làm chủ tay lái, tốc độ khi đi vào đoạn đường cong có biển báo hiệu nguy hiểm nên để xe lấn qua phần đường ngược chiều va chạm vào xe máy biển kiểm soát 72FB – 8832 do cháu Nguyễn Ngọc Thảo N2 điều khiển và xe ô tô biển kiểm soát 72A – 418.89 do ông Trương Hữu L điều khiển đang lưu thông theo hướng ngược lại dẫn đến tai nạn, làm cháu N2 tử vong. Hành vi của Nguyễn Hồng T vi phạm vào khoản 23 Điều 8 và khoản 1 Điều 9 Luật giao thông đường bộ.
Về bồi thường dân sự:
Sau khi tai nạn xảy ra, Nguyễn Hồng T đã thăm hỏi, hỗ trợ bồi thường cho gia đình nạn nhân tổng số tiền 250.000.000 đồng. Đại diện gia đình có cha mẹ là ông Nguyễn Đức M, bà Văn Thị Kim C nhận, không còn yêu cầu gì và làm đơn bãi nại cho bị cáo. (BL 62). Ngoài ra, bị cáo T tự nguyện bồi thường cho ông Trương Hữu L tổng số tiền 35.000.000 đồng để sửa chữa xe ô tô biển kiểm soát 72A – 418.89. Chủ xe ô tô 72A – 418.89 là ông Trần Quốc T2 đã làm đơn từ chối giám định thiệt hại về xe. (BL 112-113). Đối với ông Nguyễn Văn H và ông Nguyễn Tấn Nhất D là người ngồi trên xe của bị cáo T do không bị thương tích nên không yêu cầu bồi thường.
Việc thu giữ, xử lý vật chứng trong vụ án:
Xe ô tô 43S -3664 bị cáo T điều khiển là mua lại của Công ty T6 (Địa chỉ: TP .) để sử dụng, chưa làm thủ tục sang tên theo định. Ngày 02/02/2024, Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe trên cho T. (BL17). Xe ô tô 72A – 418.89 là xe của ông Trần Quốc T2. Ngày 02/02/2024 Cơ quan điều tra đã trả lại cho ông T4. (BL 18). Xe máy 72FB – 8832 là tài sản của cha mẹ bị hại mua và giao lại cho cháu N2 đi học. Ngày 08/02/2024, Cơ quan điều tra đã trả lại cho bà Văn Thị Kim C (Mẹ bị hại) (BL 20). Xe mô tô 72X2 – 6347 để trên thùng xe ô tô 43S- 3664 là của ông Nguyễn Văn H mua nhưng chưa làm thủ tục sang tên, xe có giấy tờ đầy đủ. Ngày 02/02/2024 Cơ quan điều tra đã trả lại cho ông H. (BL 19).
Tại bản cáo trạng số 46/CT-VKS-CĐ ngày 08/4/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức đã truy tố Nguyễn Hồng T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Hồng T và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 12 tháng đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 tháng đến 36 tháng; về trách nhiệm dân sự: đã giải quyết xong; về xử lý vật chứng: Đã giải quyết xong.
Ý kiến của bị cáo:
Bị cáo không có ý kiến tranh luận với Đại diện Viện kiểm sát, thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình và đề đạt Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo được hưởng án treo.
Tại phiên tòa đại diện hợp pháp của bị hại xác nhận đã giải quyết xong phần bồi thường và có đơn bãi nại, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ và đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Xét hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với các chứng cứ như biên bản khám nghiệm hiện trường và phương tiện, bản ảnh và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, từ đó đủ cơ sở kết luận:
- Xét về tính chất, mức độ: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, xâm phạm đến sức khỏe, tính mạng của người khác. Nguyên nhân dẫn đến tai nạn là do bị cáo vi phạm các quy tắc an toàn khi tham gia giao thông; bị cáo là người có giấy phép lái xe theo quy định, khi điều khiển phương tiện là ô tô lưu thông vào đoạn đường cong đã không giảm tốc độ, đi không đúng phần đường của mình nên va chạm với phương tiện lưu thông ngược chiều, hậu quả làm chết một người. Vì vậy, cần có một mức hình phạt phù hợp với hành vi mà bị cáo đã gây ra để giáo dục, cải tạo bị cáo có ý thức chấp hành pháp luật và đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung.
- Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
- Về bồi thường thiệt hại: Sau tai nạn bị cáo đã tự nguyện thăm hỏi, bồi thường cho phía gia đình bị hại với tổng số tiền là 250.000.000 đồng. Đại diện gia đình bị hại không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên phần bồi thường đã giải quyết xong.
- Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã trao trả lại các tài sản thu giữ trong vụ án theo đúng quy định, nên đã giải quyết xong.
- Về hình phạt bổ sung: không áp dụng đối với bị cáo.
- Bị cáo phải chịu án phí và được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vào khoảng 20 giờ 10 phút ngày 01/12/2023, Nguyễn Hồng T điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 43S-3664 chở theo ông Nguyễn Văn H và ông Nguyễn Tấn Nhất D lưu thông trên Quốc Lộ E theo hướng xã C đi thị trấn N, huyện C. Khi đến Km 07+800m thuộc thôn T, xã K, huyện C do không làm chủ tay lái và tốc độ khi đi vào đoạn đường cong có biển báo hiệu nguy hiểm đã lấn qua phần đường ngược chiều, va chạm với xe chạy phía trước nên gây tai nạn với xe máy biển kiểm soát 72FB – 8832 đang chạy theo hướng ngược lại, hậu quả cháu Nguyễn Ngọc Thảo N2 tử vong.
Hành vi của bị cáo đã vi phạm khoản 23 Điều 8 và khoản 1 Điều 9 Luật giao thông đường bộ, hậu quả làm chết 01 người đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015, phù hợp với nội dung truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức.
Tình tiết tăng nặng: Không.
Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự; phạm tội lần đầu với lỗi vô ý; sau tai nạn đã thăm hỏi và tự nguyện bồi thường chi phí mai táng và các chi phí khác cho gia đình bị hại với tổng số tiền là 250.000.000 đồng; tại phiên tòa đại diện bị hại không có yêu cầu bồi thường gì thêm, có đơn bãi nại và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng mức án treo. Hoàn cảnh gia đình bị cáo hiện nay là lao động chính, có con còn nhỏ đang độ tuổi ăn học cần sự chăm sóc từ bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự được xem xét khi lượng hình.
Căn cứ phân tích, nhận định nêu trên Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo Nguyễn Hồng T có nhiều tình tiết giảm nhẹ và bản thân có nơi cư trú rõ ràng nên áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự, không cần thiết phải cách ly ra khỏi đời sống xã hội mà để giám sát, giáo dục tại cộng đồng cũng đủ điều kiện giúp bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.
Đối với 01 đĩa CD ghi lại dữ liệu hình ảnh vụ tai nạn là chứng cứ cần lưu hồ sơ vụ án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hồng T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 65 Bộ luật hình sự.
- Về bồi thường thiệt hại: Đã giải quyết xong.
- Về xử lý vật chứng: Đã giải quyết xong.
- Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a, 7b và Điều 9 luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hồng T 18 (Mười tám) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 (Ba mươi sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án (12/6/2024).
Giao bị cáo Nguyễn Hồng T cho Ủy ban nhân dân thị trấn N, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu và gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân thị trấn N giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp người hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Buộc bị cáo Nguyễn Hồng T phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử phúc thẩm. (Người vắng mặt tại tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết)./.
Bản án số 65/2024/HS-ST ngày 12/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU ĐỨC, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 65/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU ĐỨC, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
