Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CHÍ LINH

TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 65/2024/HS - ST

Ngày: 11-7-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Chu Thị Thu Hương

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Bạn

Bà Nguyễn Thị Mai

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Mai Hương - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Thu Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 60/2024/TLST-HS ngày 14 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 66/2024/QĐXXST - HS ngày 21 tháng 6 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Xuân Đ, sinh năm 1995 tại thành phố C, tỉnh Hải Dương; Nơi ĐKHKTT và nơi ở hiện nay: Khu dân cư T, phường V, thành phố C, tỉnh Hải Dương; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Xuân Đ1 và con bà Ngô Thị H; Gia đình có 3 anh em, bị cáo là con thứ 3. Tiền án, tiền sự: Không.

    Nhân thân: Bản án số 36 ngày 24/7/2018 của Toà án nhân dân huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương, xử phạt Đến 26 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, Đến chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/4/2020, đã nộp án phí và tiền truy thu ngày 15/11/2018.

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 27/02/2024 đến ngày 29/02/2024 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

  2. Nguyễn Văn D, sinh năm 1996 tại thành phố C, tỉnh Hải Dương; Nơi ĐKHKTT và nơi ở hiện nay: Khu dân cư S B, phường P, thành phố C, tỉnh Hải Dương; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn Đ2 và con bà Lê Thị H1; Bị cáo là con duy nhất. Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 27/02/2024 đến ngày 29/02/2024 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

  3. Đinh Văn V, sinh năm 1999 tại thành phố C, tỉnh Hải Dương; Nơi ĐKHKTT và nơi ở hiện nay: Khu dân cư H, phường S, thành phố C, tỉnh Hải Dương; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đinh Văn T và con bà Nguyễn Thị T1; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ 2. Tiền án, tiền sự: Không.

    Nhân thân: Bản án số 89 ngày 30/11/2020 của Toà án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương, xử phạt V 16 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, V chấp hành xong hình phạt tù ngày 19/10/2021, đã nộp án phí ngày 02/4/2021.

    Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số: 10/2018/QĐ-TA ngày 01/10/2018 của Tòa án nhân dân thị xã Chí Linh(nay là Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh), đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn là 15 tháng, ngày 09/12/2019 V chấp hành xong quyết định.

    Ngày 07/6/2018, bị Công an phường S, thị xã C (nay là thành phố C) xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, hình thức phạt tiền. V đã nộp phạt ngày 11/6/2018.

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 27/02/2024 đến ngày 29/02/2024 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

  4. Trần Tuấn A, sinh năm 2001 tại thành phố C, tỉnh Hải Dương; Nơi ĐKHKTT và nơi ở hiện nay: Khu dân cư H, phường S, thành phố C, tỉnh Hải Dương; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Xuân H2 và con bà Lê Thị H3; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ 2. Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 27/02/2024 đến ngày 29/02/2024 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo D: Bà Nguyễn Thị C- Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh H. Có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1975. Địa chỉ: A, huyện N, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt.
  2. Bà Lê Thị H4, sinh năm 1953 Địa chỉ: Khu dân cư S B, phường P, thành phố C, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt.

- Người làm chứng:

Anh Vũ Quang K, sinh năm 1990. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ 05 phút, ngày 26/02/2024, Nguyễn Xuân Đ, Đinh Văn V và Trần Tuấn A đang ở phòng trọ của V ở khu dân cư H, phường S, thành phố C, tỉnh Hải Dương thì Đến để 300.000 đồng trên giường và nói với V đi mua ma tuý rồi lên nhà Nguyễn Văn D ở P để cùng sử dụng. Tuấn A cầm số tiền Đến để trên giường, sau đó, V điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đỏ-đen, biển số 34C1-029.05 (xe V mượn của mẹ đẻ là bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1975, trú tại: A, N, Hải Dương) chở Tuấn A đến khu vực gần trường THPT C1, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Tuấn A bảo V đứng chờ còn Tuấn A đi một đoạn gặp và mua 300.000đ tiền ma tuý của một người đàn ông không rõ nhân thân, lý lịch mua được 01 túi nilon ma tuý. Sau khi mua được ma tuý, cả hai đi về phòng trọ của V, V lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm ống thủy tinh và ống hút bằng nhựa của V cất vào túi áo. Sau đó V và Tuấn A ra Quảng Trường S đón Đ đi đến nhà Nguyễn Văn D, ở khu dân cư S B, phường P, thành phố C, tỉnh Hải Dương. Khi đến cổng nhà D, Đ sử dụng điện thoại kiểu dáng Iphone X Max, sử dụng dữ liệu 4g của sim số 0974.686.295 gọi điện qua ứng dụng messenger bảo D về mở cửa cho Đ vào sử dụng ma tuý thì D đồng ý và về mở cửa cho Đ, Tuấn A, V vào phòng bếp nhà D để sử dụng ma tuý. Đến nhặt chai nước ở góc bếp đưa cho V, V lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy ra lắp lại, Tuấn A lấy túi ma túy ra đổ một phần vào cóng thuỷ tinh, phần còn lại để trên mặt bàn để khi hết sẽ sử dụng tiếp, rồi V, Tuấn A và Đến thay nhau sử dụng ma túy. D sử dụng điện thoại kiểu dáng Iphone 11 Pro Max, gắn sim số 0347.712.427 của D để gọi điện cho Vũ Quang K, sinh năm: 1999, trú tại: khu dân cư S P, phường P, thành phố C, tỉnh Hải Dương bảo đến nhà D sử dụng ma túy. Một lúc sau K đến và sử dụng ma túy cùng với Đ, Tuấn A và V. Đến khoảng 21 giờ 10 phút cùng ngày thì lực lượng Công an thành phố C đến kiểm tra, phát hiện, Tuấn A gạt túi ma tuý còn lại trên mặt bàn xuống sàn bếp dưới chân bàn nhựa. Lực lượng công an lập biên bản, thu giữ tại vị trí mặt sàn phòng bếp (dưới chân bàn nhựa màu xanh phía trước mặt các đối tượng) 01 (một) túi ni lông màu trắng, viền khóa màu trắng, kích thước (2x2)cm, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng là ma túy; 01 (một) đoạn ống nhựa màu trắng, chiều dài 4cm, bên trong bám dính chất tinh thể màu trắng là ma túy (túi nilon và đoạn ống nhựa màu trắng được niêm phong trong phong bì số (1)); 01 (một) bật lửa ga màu đỏ, nhãn hiệu “Hoa Việt”; 01 (một) vỏ chai nhựa màu trắng, không có nhân mác, chiều cao 20cm, đường kính mặt đáy 06cm, phần nắp màu đen được đục hai lỗ, một lỗ được cắm ống hút nhựa màu trắng dài 20,5cm, một lỗ được cắm ống hút nhựa màu trắng dài 12,5cm, một đầu của ống nhựa được gắn với một ống thủy tinh dài 9cm, trên ống thủy tinh có chữ “ ANTỐT”, bên trong bám dính chất tinh thể màu trắng là ma túy (ống thuỷ tinh được niêm phong trong phong bì số 2). Đinh Văn V tự nguyện giao nộp 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đỏ-đen, biển số 34C1-029.05; Nguyễn Xuân Đ tự nguyện giao nộp 01 điện thoại kiểu dáng Iphone X Max, bên trong gắn sim số 0974.686.295; Nguyễn Văn D tự nguyện giao nộp 01 điện thoại kiểu dáng Iphone 11 Pro Max, gắn sim số 0347.712.427.

Tại bản Kết luận giám định số 173 ngày 28/02/2024 của Phòng K1, Công an tỉnh H kết luận:

  • - Chất rắn (dạng tinh thể) màu trắng, trong túi nilon màu trắng kích thước (2x2) cm được niêm phong trong phong bì số (1), gửi đến giám định có khối lượng là: 0,120g (Không phẩy một trăm hai mươi gam) là ma túy, loại Methamphetamine. H5 lại sau giám định 0,082 gam ma tuý, loại Methamphetamine.
  • - Chất tinh thể màu trắng bám dính bên trong đoạn ống nhựa mầu trắng được niêm phong trong phong bì số (1), gửi đến giám định, là ma túy loại Methamphetamine. Lượng mẫu bám dính rất nhỏ nên không xác định được khối lượng.
  • - Chất tinh thể màu trắng bám dính bên ống thủy tinh mầu trắng được niêm phong trong phong bì số 2, gửi đến giám định, là ma túy loại Methamphetamine. Lượng mẫu bám dính rất nhỏ nên không xác định được khối lượng.

Tại bản cáo trạng số 68/CT-VKS-KT ngày 11/6/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương đã truy tố các bị cáo Nguyễn Xuân Đ, Nguyễn Văn D, Đinh Văn V và Trần Tuấn A về tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy", quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà:

Các bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát và đề nghị Tòa án xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn D đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng mức hình phạt 7 năm tù đối với bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội của các bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đề nghị Tòa án: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Xuân Đ, Nguyễn Văn D, Đinh Văn V và Trần Tuấn A về tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; các điểm a, c khoản 1 Điều 47 BLHS; các điểm a, c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Luật phí, lệ phí số 97/2015/QH 13 ngày 25 tháng 11 năm 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQHH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân Đ từ 7 năm 9 tháng đến 8 năm 3 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 27/02/2024.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D từ 7 năm 4 tháng đến 7 năm 10 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 27/02/2024.

Xử phạt bị cáo Đinh Văn V từ 7 năm 7 tháng đến 8 năm 1 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 27/02/2024.

Xử phạt bị cáo Trần Tuấn A từ 7 năm 4 tháng đến 7 năm 10 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 27/02/2024.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

Về vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ 0,082gam ma túy loại Methamphetamine, 01 vỏ túi ni lông màu trắng, 01 đoạn ống hút nhựa màu trắng, 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi đến giám định; 01 đoạn ống hút nhựa màu trắng một đầu được gắn với ống thủy tinh màu trắng, 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi đến giám định; 01 chai nhựa chiều cao 20cm, đường kính mặt đáy 6cm, màu trắng không nhãn mác, phần nắp chai màu đen được đục hai lỗ, đã qua sử dụng; 01 bật lửa ga màu đỏ, nhãn hiệu “Hoa Việt”, đã qua sử dụng; 01 ống hút nhựa màu trắng, dài 20,5cm, đã qua sử dụng.

Tịch thu phát mại sung quỹ 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone Xs M, màu trắng số IMEI 1: 357275090440246, số IMEI 2: 357275090698660, bên trong điện thoại nắp 01 sim số seri sim 8984048000930317752, máy đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone 11 pro Mã, màu trắng, mặt sau rạn vỡ, số IMEI 1: 353905108618581, số IMEI 2: 353905108448716, bên trong điện thoại nắp 01 sim số seri sim 8984048000322126017, máy đã qua sử dụng.

Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Xuân Đ, Đinh Văn V, Trần Tuấn A mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo Nguyễn Văn D được miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố C, tỉnh Hải Dương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai của các bị cáo Nguyễn Xuân Đ, Nguyễn Văn D, Đinh Văn V, Trần Tuấn A tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với người chứng kiến, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 21 giờ 10 phút ngày 26/02/2024, tại phòng bếp nơi Nguyễn Văn D ở nhờ ở khu dân cư S P, phường P, thành phố C, tỉnh Hải Dương, Nguyễn Xuân Đ, Đinh Văn V và Trần Tuấn A có hành vi chuẩn bị ma túy (Đến đưa tiền cho V chở Tuấn A đi mua ma túy); V chuẩn bị dụng cụ để sử dụng trái phép chất ma túy, Nguyễn Văn D có hành vi cung cấp địa điểm để Tuấn A, V, Đ sử dụng trái phép chất ma túy và gọi Vũ Quang K đến để K sử dụng trái phép chất ma túy. Khi Nguyễn Xuân Đ, Đinh Văn V, Trần Tuấn A và Vũ Quang K đang sử dụng trái phép chất ma tuý thì bị lực lượng công an thành phố C kiểm tra, phát hiện, thu giữ vật chứng và 0,120g (Không phẩy một trăm hai mươi gam) ma túy, loại Methamphetamine các đối tượng chưa kịp sử dụng thì bị phát hiện.

Do đó đủ căn cứ xác định Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương truy tố các bị cáo Nguyễn Xuân Đ, Đinh Văn V, Trần Tuấn A, Nguyễn Văn D về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 BLHS là có căn cứ.

[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy. Các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng các bị cáo vẫn cố ý mua ma túy về tổ chức cùng nhau sử dụng trái phép chất ma túy. Trong vụ án, các bị cáo đồng phạm với nhau, trong đó Nguyễn Xuân Đ là người đề xuất, khởi xướng, đưa tiền để V, Tuấn A đi mua ma tuý nên giữ vai trò thứ nhất. Nguyễn Văn D cung cấp địa điểm và gọi Vũ Quang K đến sử dụng trái phép chất ma tuý, Đinh Văn V chở Tuấn A đi mua ma tuý và chuẩn bị dụng cụ đẻ sử dụng trái phép ma túy nên cùng giữ vai trò thứ hai, Trần Tuấn A là người trực tiếp đi mua ma tuý nên giữ vai trò thứ ba.

Vì vậy, khi áp dụng hình phạt đối với các bị cáo, Hội đồng xét xử cũng xem xét tới các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ và tính chất hành vi của từng bị cáo như sau: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Đ, V, D, Tuấn A đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải với hành vi phạm tội của mình nên các bị cáo đều được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo D, Tuấn A đều có nhân thân tốt, bị cáo Đ từng đi chấp hành án về tội mua bán trái phép chất ma túy, bị cáo V từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và đã chấp hành xong nhưng các bị cáo không chịu tu dưỡng, rèn luyện, lao động mà lại thực hiện hành vi vi phạm pháp luật nên cần áp dụng một hình phạt thỏa đáng, cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới đủ điều kiện để rèn luyện các bị cáo trở thành người có ích, đồng thời răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.

[4] Về hình phạt bổ sung: Xét các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có thu nhập, không có tài sản riêng nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[5] Về xử lý vật chứng:

Đối với 0,082gam ma túy loại Methamphetamine, 01 vỏ túi ni lông màu trắng, 01 đoạn ống hút nhựa màu trắng, 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi đến giám định; 01 đoạn ống hút nhựa màu trắng một đầu được gắn với ống thủy tinh màu trắng, 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi đến giám định; 01 chai nhựa chiều cao 20cm, đường kính mặt đáy 6cm, màu trắng không nhãn mác, phần nắp chai màu đen được đục hai lỗ, đã qua sử dụng; 01 bật lửa ga màu đỏ, nhãn hiệu “Hoa Việt”, đã qua sử dụng; 01 ống hút nhựa màu trắng, dài 20,5cm, đã qua sử dụng là vật Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành và vật chứng không có giá trị hoặc không sử dụng được nên bị tịch thu và tiêu huỷ là phù hợp với điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS và các điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS.

Đối với 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone Xs M, màu trắng số IMEI 1: 357275090440246, số IMEI 2: 357275090698660, bên trong điện thoại nắp 01 sim số seri sim 8984048000930317752, máy đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone 11 pro Mã, màu trắng, mặt sau rạn vỡ, số IMEI 1: 353905108618581, số IMEI 2: 353905108448716, bên trong điện thoại nắp 01 sim số seri sim 8984048000322126017, máy đã qua sử dụng là phương tiện các bị cáo dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước là phù hợp với điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS, điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đỏ-đen, biển số 34C1-029.05 là tài sản hợp pháp của bà Nguyễn Thị T1, bà T1 không biết việc V sử dụng xe đi mua ma tuý về sử dụng nên Cơ quan điều tra trả lại xe mô tô trên cho bà T1 là phù hợp với khoản 3 Điều 106 BLTTHS.

[6] Trong vụ án, đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của Nguyễn Xuân Đ, Đinh Văn V và Trần Tuấn A, Vũ Quang K, Công an thành phố C đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

Đối với địa điểm các đối tượng sử dụng trái phép chất ma tuý phòng bếp nhà Nguyễn Văn D ở cùng bà ngoại là bà Nguyễn Thị H6. Bà H6 không biết việc D và các đối tượng tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại đây, bà Nguyễn Thị T1 cho Đinh Văn V mượn xe mô tô để sử dụng, không biết việc V dùng xe đi mua ma tuý để sử dụng nên không đặt ra xử lý.

Đối với người bán ma tuý cho Trần Tuấn A không xác định được nhân thân, lý lịch nên không có căn cứ để xử lý.

[7] Về án phí: Bị cáo Đến, D, V, Tuấn A bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Bị cáo Nguyễn Văn D là hộ cận nghèo nên được miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 BLHS Áp dụng các điểm a, c khoản 1 Điều 47 BLHS; các điểm a, c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136; ; Điều 331; Điều 333 của BLTTHS; Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Xuân Đ, Đinh Văn V, Nguyễn Văn D, Trần Tuấn A phạm tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy".

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân Đ 7 năm 8 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 27/02/2024.

    Xử phạt bị cáo Đinh Văn V 7 năm 7 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 27/02/2024.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D 7 năm 5 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 27/02/2024.

    Xử phạt bị cáo Trần Tuấn A 7 năm 2 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 27/02/2024.

    Hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

  2. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ: 0,082gam ma túy loại Methamphetamine, 01 vỏ túi ni lông màu trắng, 01 đoạn ống hút nhựa màu trắng, 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi đến giám định đựng bên trong 01 phong bì dán kín, mặt trước ghi: Công an tỉnh H số 173/KL-KTHS, cơ quan CSĐT-CATP C, ký hiệu T1, tang vật vụ án gửi giám định QĐTC 228 ngày 27/02/2024, mặt sau phong bì có 03 dấu đỏ giáp lai của phòng K1 Công an tỉnh H và 03 chữ ký niêm phong mẫu;

    Tịch thu tiêu hủy: 01 đoạn ống hút nhựa màu trắng một đầu được gắn với ống thủy tinh màu trắng, 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi đến giám định đựng bên trong 01 phong bì dán kín, mặt trước ghi: Công an tỉnh H số 173/KL-KTHS, cơ quan CSĐT-CATP C, ký hiệu T1, tang vật vụ án gửi giám định QĐTC 228 ngày 27/02/2024, mặt sau phong bì có 03 dấu đỏ giáp lai của phòng K1 Công an tỉnh H và 03 chữ ký niêm phong mẫu.

    Tịch thu tiêu hủy: 01 chai nhựa chiều cao 20cm, đường kính mặt đáy 6cm, màu trắng không nhãn mác, phần nắp chai màu đen được đục hai lỗ, đã qua sử dụng; 01 bật lửa ga màu đỏ, nhãn hiệu “Hoa Việt”, đã qua sử dụng; 01 ống hút nhựa màu trắng, dài 20,5cm, đã qua sử dụng.

    Tịch thu phát mại sung quỹ 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone Xs M, màu trắng số IMEI 1: 357275090440246, số IMEI 2: 357275090698660, bên trong điện thoại nắp 01 sim số seri sim 8984048000930317752, máy đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone 11 pro Mã, màu trắng, mặt sau rạn vỡ, số IMEI 1: 353905108618581, số IMEI 2: 353905108448716, bên trong điện thoại nắp 01 sim số seri sim 8984048000322126017, máy đã qua sử dụng.

    (Tình trạng cụ thể của vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản giữa cơ quan CSĐT- Công an thành phố C và Chi cục THADS thành phố C ngày 14/6/204).

  3. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Xuân Đ, Đinh Văn V, Trần Tuấn A, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo Nguyễn Văn D được miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - VKSND thành phố Chí Linh;
  • - VKSND tỉnh Hải Dương;
  • - CQĐT -Công an thành phố Chí Linh;
  • - Công an thành phố Chí Linh;
  • - Phòng hồ sơ nghiệp vụ- Công an tỉnh Hải Dương;
  • - Cơ quan THA hình sự - Công an thành phố Chí Linh;
  • - Chi cục THADS thành phố Chí Linh;
  • - Sở tư pháp tỉnh Hải Dương;
  • - Các bị cáo;
  • - Người có QLNVLQ;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Chu Thị Thu Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 65/2024/HS - ST ngày 11/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƯƠNG về hình sự (tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 65/2024/HS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Xuân Đến và đồng bọn phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger