Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 65/2024/HS-PT

Ngày: 10/9/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Huy Đức.

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Việt Hùng và bà Lê Thị Thái Lan.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Quang – Thư ký viên Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Minh Tâm – Kiểm sát viên Trung cấp.

Ngày 10 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 66/2024/TLPT-HS ngày 31 tháng 7 năm 2024 do có kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Văn T, Trần Kim T1 đối với Bản án Hình sự sơ thẩm số: 68/2024/HS-ST ngày 25/6/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên.

- Các bị cáo có kháng cáo:

  1. Nguyễn Văn T, tên gọi khác. Út; giới tính: nam; sinh ngày 15 tháng 4 năm 1996, tại tỉnh Phú Yên; nơi cư trú và chỗ ở hiện nay: thôn M, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: Làm biển; trình độ học vấn: 10/12; họ và tên cha: Nguyễn B, sinh năm 1945, họ và tên mẹ: Nguyễn Thị N, sinh năm 1954, có 03 anh, 02 chị; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
  2. Trần Kim T1, tên gọi khác: B1; giới tính: nam; sinh ngày 18 tháng 3 năm 1991, tại tỉnh Phú Yên; nơi cư trú và chỗ ở hiện nay: thôn M, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: làm biển; trình độ học vấn: 7/12 (bị cáo khai tại phiên tòa trình độ học vấn: 8/12); họ và tên cha: Trần Kim P, sinh năm 1952; họ và tên mẹ: Hồ Thị N1, sinh năm 1957; có 02 chị, 01 em; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ ngày 26/12/2023, Nguyễn Văn T, Trần Kim T1 và Nguyễn Thị Thùy G cùng nhậu tại quán T2, T nhớ lại việc trước đây chị Võ Thị P1 có đứng phân giải vụ va chạm giao thông giữa T với nhân viên của chị P1. Biết chị P1 đang ở quán H, thuộc thôn L, xã A, thành phố T, nên T nảy sinh ý định đánh chị P1, T rủ T1 cùng tham gia, T1 đồng ý. Khoảng 18 giờ 20 phút cùng ngày, T1 đưa chiếc xe mô tô biển số 78H1-288.94 (xe của Trần Kim V là em ruột của T1) cho T điều khiển chở T1 cầm theo 01 con dao tự chế dài 53,5cm đi đến quán H để đánh chị P1. Khi đến nơi, T1 cùng với T đi vào trong quán, T đến đứng sau lưng chị P1 cầm dao tự chế mang theo chém 01 nhát từ trên xuống hướng vào người chị P1, chị P1 đưa tay trái lên đỡ thì trúng vào lòng bàn tay và ngón tay cái gây thương tích.

Tại bản giám định pháp y về thương tích số 08/KLTTCT-PYPY ngày 16/01/2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh P, kết luận: Võ Thị P1 bị thương tích tỷ lệ 03%.

Tại Bản án Hình sự sơ thẩm số: 68/2024/HS-ST ngày 25/6/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên đã tuyên các bị cáo Nguyễn Văn T, Trần Kim T1 phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Áp dụng điểm a, i, khoản 1, Điều 134, điểm b, i, s, khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự; Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án; bị cáo Trần Kim T1 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên phần xử lý vật chứng, tài sản tạm giữ, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 28/6/2024, các bị cáo Nguyễn Văn T, Trần Kim T1 cùng có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn T, Trần Kim T1 vẫn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản án sơ đã tuyên và giữ nguyên kháng cáo.

Kiểm sát viên phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Văn T, Trần Kim T1 – Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. [1] Lời khai nhận tội của các bị cáo Nguyễn Văn T, Trần Kim T1 tại Cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm đều phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những người làm chứng về thời gian, địa điểm phạm tội, công cụ dùng vào việc phạm tội và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 18 giờ 20 phút ngày 26 tháng 12 năm 2023, tại quán H, thuộc thôn L, xã A, thành phố T, các bị cáo Nguyễn Văn T, Trần Kim T1 đã thống nhất dùng hung khí nguy hiểm (mã tấu) chém vào người chị Võ Thị P1 một nhát, chị P1 đưa tay trái lên đỡ nên bị thương tích tại lòng bàn tay và ngón tay cái. Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Võ Thị P1 tại thời điểm giám định là 03%. Mặc dù thương tích của người bị hại là dưới 11% nhưng các bị cáo Nguyễn Văn T, Trần Kim T1 thống nhất dùng hung khí nguy hiểm (01 con dao tự chế dài 53,5cm có cán bằng gỗ dài 16cm) để thực hiện hành vi cố ý gây thương tích cho chị P1 có tính chất côn đồ, do đó cấp sơ thẩm đã truy tố, xét xử các bị cáo Nguyễn Văn T, Trần Kim T1 về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a, i, khoản 1, Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng tội.
  2. [2] Xét kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Văn T, Trần Kim T1, Hội đồng xét xử thấy: Hành vi phạm tội của các bị cáo nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến sức khỏe của người khác, gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội ở địa phương nên cần xử phạt nghiêm, mới đảm bảo tác dụng giáo dục, cải tạo các bị cáo và phòng ngừa tội phạm. Khi lượng hình, bản án sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ phạm tội của từng bị cáo, xem xét nhân thân cũng như nguyên nhân, điều kiện phạm tội và áp dụng đúng, đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà từng bị cáo được hưởng và xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 09 (chín) tháng tù, Trần Kim T1 06 (sáu) tháng tù và không cho các bị cáo được hưởng án treo là phù hợp, đáp ứng được yêu cầu đấu tranh, phòng chống tội phạm tại địa phương trong tình hình hiện nay. Tại cấp phúc thẩm, các bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo nhưng không phát sinh tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào mới, do đó không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của các bị cáo mà chấp nhận ý kiến của Kiểm sát viên – Giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt để có đủ thời gian cải tạo, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.
  3. [3] Các bị cáo kháng cáo không được chấp nhận nên phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo hoặc kháng nghị nên cấp phúc thẩm không xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điểm a, Khoản 1, Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Văn T, Trần Kim T1 – Giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt.

Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Văn T, Trần Kim T1 phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

  1. Về hình phạt: Áp dụng Điểm a, i, Khoản 1, Điều 134, Điểm b, i, s, Khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo. Xử phạt:
    • - Bị cáo Nguyễn Văn T 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án;
    • - Bị cáo Trần Kim T1 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
  2. Về án phí: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

    Các bị cáo Nguyễn Văn T, Trần Kim T1, mỗi bị cáo phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬTHẨM PHÁN
– CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lê Thị Thái LanTrần Huy Đức
Nguyễn Việt Hùng

Nơi nhận:

  • - TAND Cấp cao tại Đà Nẵng;
  • - VKSND Cấp cao tại Đà Nẵng;
  • - VKSND tỉnh Phú Yên (2);
  • - Sở Tư pháp tỉnh Phú Yên;
  • - TAND Tp Tuy Hòa (2);
  • - CQ CSĐT Tp Tuy Hòa;
  • - VKSND Tp Tuy Hòa;
  • - Chi cục THADS Tp Tuy Hòa;
  • - P. KTNV- THAHS; Bị cáo, NTGTT, Lưu THS, AV.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Huy Đức

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 65/2024/HS-PT ngày 10/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN về hình sự (cố ý gây thương tích)

  • Số bản án: 65/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cố ý gây thương tích)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 10/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: BẢN ÁN - HSPT - T và T1 - Đ 134
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger