TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN *** | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc *** |
Bản án số 65/2024/DS-PT
Ngày 10-7-2024
V/v “Yêu cầu chia di sản thừa kế"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thúy Ngọc
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Đức Anh và bà Nguyễn Thị Thanh Nga
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Huyền Trang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Nam - Kiểm sát viên.
Trong ngày 10/7/ 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 132/20223TLPT-DS ngày 28 tháng 12 năm 2023 về “Yêu cầu chia di sản thừa kế”, do Bản án dân sự sơ thẩm số 33/2023/DS-ST ngày 02/10/2023 của Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An bị kháng cáo, kháng nghị theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 58/2024/QĐ-PT ngày 07 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Bùi Thị T, sinh năm 1955; nơi cư trú: Xóm D, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An; có mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Phạm Thành C, sinh năm 1990, có mặt; Nơi cư trú: K, thị trấn C, huyện Q, tỉnh Nghệ An; có mặt.
- Bị đơn:
- Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1968; nơi cư trú: Thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn (bà N): chị Bùi Thị B, sinh năm 1992; nơi cư trú: Xóm F, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An (theo văn bản ủy quyền lập ngày 27/6/2024); có mặt;
- Anh Bùi Ngọc H, sinh năm 1987; nơi cư trú: Thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.
Đại diện ủy quyền của anh H: chị Hồ Thị L, sinh năm 1985; nơi cư trú: Thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An; có mặt.
- Anh Bùi Văn T1, sinh năm 1990; nơi cư trú: Thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An; có mặt.
- Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1968; nơi cư trú: Thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
- Bà Bùi Thị T2, sinh năm 1960; ni cư trú: Thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An; có mặt.
- Ông Bùi Ngọc T3, sinh năm 1971; nơi cư trú: Thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An; có mặt.
- Ông Hồ Hữu C1, sinh năm 1946; nơi cư trú: Thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An; có mặt.
- Chị Hồ Thị Q, sinh năm 1973; nơi cư trú: Thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An; có mặt.
- Anh Hồ Điện Q1, sinh năm 1976; nơi cư trú: Thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.
- Chị Bùi Thị B, sinh năm 1992; nơi cư trú: Xóm F, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An; có mặt.
- Chị Hồ Thị L, sinh năm 1985; nơi cư trú: Thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An; có mặt;
- Chị Trần Thị L1, sinh năm 1994, nơi cư trú: Thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An; có mặt;
- Hội Nông dân xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An; Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn L2 - Chủ tịch Hội Nông dân xã Q, vắng mặt; Nơi cư trú: Xóm E, xã Q huyện Q, tỉnh Nghệ An.
- - Người kháng cáo: bị đơn bà Nguyễn Thị N, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Bùi Văn T1, chị Bùi Thị B
- - Chủ thể kháng nghị: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 16/06/2022, bản tự khai ngày 11/11/2022 của nguyên đơn bà Bùi Thị T; quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Phạm Thành C thống nhất trình bày:
Bố mẹ bà Bùi Thị T là cụ Bùi Văn K (sinh năm 1928, chết năm 1998) và cụ Nguyễn Thị H1 (sinh năm 1926, chết ngày 09/06/2011). Quá trình chung sống hai cụ có 05 người con chung là Bùi Thị T4 (Sinh năm 1949, chết năm 2020, có chồng là Hồ Hữu C1, có các con là Hồ Đ và Hồ Thị Q); ông Bùi Ngọc S (Sinh năm 1975, chết ngày 12/01/2011, có vợ là Nguyễn Thị N, có các con là Bùi Ngọc H, Bùi Ngọc T5 và Bùi Thị B); Bùi Ngọc T3, sinh năm 1971; Bùi Thị T2, sinh năm 1960 và Bùi Thị T, sinh năm 1955. Hai cụ không ai có con nuôi, con riêng.
Quá trình chung sống cụ K và cụ H1 tạo lập được khối tài sản chung là thửa đất số 331, tờ bản đồ số 02, diện tích 870m² (Bản đồ 299), tại thôn H (Xóm A cũ), xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An, thửa đất đã được UBND huyện Q cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, số G 038565 ngày 05/02/1996 mang tên Bùi Văn K. Tức thửa đất số 51, tờ bản đồ số 14, diện tích 1071,7m² (Bản đồ địa chính dạng số). Trên mảnh đất có 01 nhà cấp bốn 05 gian được cụ K xây dựng từ năm 1980, nay đã hư hỏng, chỉ còn móng nhà. Cụ K và cụ H1 chết không để lại di chúc.
Sau khi hai cụ chết, bà N và các con là anh Bùi Ngọc H và anh Bùi Văn T1 sinh sống trên thửa đất đó, có hứa hẹn nhường cho ông Bùi Ngọc T3 một phần diện tích khoảng 190m² tại vị trí mà cụ K và cụ H1 đã xây nhà trước đây. Tuy nhiên, sau đó mẹ con bà N thay đổi, không cho ông T3 sử dụng đất. Hiện nay trên đất được sự thống nhất của anh em họ, các đồng thừa kế của cụ K, cụ H1 đã xây dựng khuôn viên nhà thờ để thờ cúng. Đến năm 2021, các con trai của bà N là anh T1 và anh H đã xây dựng nhà ở kiên cố trên thửa đất này. Bà N hiện nay đang giữ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của cụ K. Việc xây dựng nhà ở của anh H, anh T1 được sự đồng ý của hàng thừa kế hai cụ.
Tại phiên tòa, nguyên đơn đề nghị: Yêu cầu Tòa án phân chia di sản thừa kế của cụ Bùi Văn K và cụ Nguyễn Thị H1 để lại theo pháp luật, là thửa đất số 331, tờ bản đồ số 2, diện tích 870m² (Bản đồ 299) tại thôn H (Xóm A cũ), xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An; nay là thửa đất 51, tờ bản đồ 14, diện tích 1071,7m², cụ thể: Trích 150m² đất để xây dựng nhà thờ họ (các đồng thừa kế và anh em nội thân đã thống nhất, thỏa thuận và đã xây dựng nhà thờ tạm giao cho ông Bùi Ngọc T3 quản lý). Phần diện tích đất thực tế còn lại 921,7m chia đều cho các đồng thừa kế thành 06 phần bằng nhau: Chia cho bà Nguyễn Thị N, anh Bùi Ngọc H, anh Bùi Văn T1, chị Bùi Thị B được hưởng 02 kỷ phần thừa kế; chia cho ông Bùi Ngọc T3 01 kỷ phần thừa kế là phần đất giáp nhà nhờ; chia cho bà Bùi Thị T, bà Bùi Thị T2, ông Hồ Hữu C1, chị Hồ Thị Q và anh Hồ Điện Q1 được hưởng chung 03 kỷ phần thừa kế; trả lại cho bà N giá trị tài sản mà bà N đã xây dựng. Phần diện tích bà N, anh T1 và chị B đã sử dụng nếu vượt quá phải trả lại giá trị bằng tiền cho các đồng thừa kế khác; không yêu cầu anh H phải trả lại giá trị bằng tiền vì hoàn cảnh kinh tế anh H còn khó khăn.
Trên thửa đất trước đây có 01 nhà ngói 05 gian do cụ H1 và cụ K1 để lại nhưng hiện nay đã bị hư hỏng, chỉ còn móng nhà, không còn giá trị sử dụng nguyên đơn không yêu cầu chia thừa kế đối với tài sản này.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 27/01/2023, bản trình bày ngày 06/09/2023 của bị đơn bà Nguyễn Thị N và tại phiên tòa, bà Nguyễn Thị N, người đại diện theo ủy quyền của bà N ông Nguyễn Đình L3 và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà N ông Đoàn Văn H2 trình bày:
Bà Nguyễn Thị N là vợ của ông Bùi Ngọc S, là con dâu của cụ K và cụ H1. Hai cụ có 05 người con chung là: Bùi Thị T4 (Sinh năm 1949, chết năm 2020, có chồng là Hồ Hữu C1 và có 02 con chung là Hồ Đ, Hồ Thị Q); Bùi Thị T, sinh năm 1955; Bùi Thị T2, sinh năm 1960; Bùi Ngọc S (Sinh năm 1975, chết ngày 12/01/2011); Bùi Ngọc T3, sinh năm 1971. Cụ K và cụ H1 không ai có con nuôi, con riêng. Quá trình chung sống, cụ K và cụ H1 tạo lập được thửa đất số 331, tờ bản đồ số 02, diện tích 870m² (Bản đồ 299); nay là thửa đất số 51, tờ bản đồ số 14, diện tích 1071m² tại thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Trên đất có 01 nhà ngói 05 gian nhưng nay đã hư hỏng, xuống cấp. Thửa đất của hai cụ đã được cấp Giấy chứng nhận QSDĐ năm 1996, đứng tên Bùi Văn K. Cụ K chết năm 1998, cụ H1 chết năm 2011. Hai cụ chết không để lại di chúc. Bà N và ông S kết hôn năm 1986, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Q. Quá trình chung sống bà N và ông S có 03 con chung là Bùi Ngọc H, Bùi Văn T1 và Bùi Thị B. Từ sau khi kết hôn, vợ chồng bà chung sống với cụ K và cụ H1 trên thửa đất đó đến nay. Khi cụ K, cụ H1 còn sống có mua một mảnh đất nay ông T3 đang ở. Vợ chồng bà N có nguyện vọng ra ở riêng tại mảnh đất đó nhưng do con trưởng nên ở chung với hai cụ, còn ông T3 ra riêng. Quá trình sử dụng đất bà N có công sức cải tạo, quản lý đất. Trước đây nương thấp, vợ chồng bà N, ông S có công bồi trúc, làm tăng giá trị đất. Quá trình làm đường xóm, gia đình bà N có hiến đất làm đường chiều rộng khoảng 1,5m đến 1,8m. Trên thửa đất của cụ K và cụ H1 để lại anh T1 và anh H đã xây dựng nhà ở kiên cố. Khi anh T1 và anh H làm nhà không có văn bản phân chia đất đai nhưng có thỏa thuận miệng của đồng thừa kế cho vợ chồng anh H và anh T1 xây dựng nhà trên đất. Anh H đã xây nhà mặt bám đường khoảng 13m, chiều sâu đến hết đất; anh T1 xây nhà mặt bám đường khoảng 10m, chiều sâu đến hết đất. Trên đất còn có nhà thờ do anh em họ Bùi góp tiền xây dựng, hiện do anh Bùi Ngọc H làm trưởng tộc, chiều dài mặt bám đường khoảng 6m, chiều sâu hết đất, diện tích cụ thể bao nhiêu bà N không nắm rõ. Việc xây dựng nhà thờ đã được anh em họp bàn rồi mới xây dựng. Nay nguyên đơn bà Bùi Thị T yêu cầu khởi kiện chia di sản của cụ K và cụ H1 để lại theo pháp luật, bà N không đồng ý. Bà N yêu cầu để lại phần đất đã làm nhà thờ để tiếp tục thờ cúng ông bà tổ tiên. Đối với phần đất anh H, anh T1 đã xây dựng nhà ở kiên cố, ổn định đề nghị giao cho anh H, anh T1 tiếp tục sử dụng. Bà N yêu cầu được quản lý, sử dụng phần đất còn lại. Hiện bà và các con là anh T1, anh H không còn chỗ ở nào khác nên đề nghị Tòa án xem xét công sức đóng góp của bà trong quá trình sử dụng đất và trích chia thêm cho bà N bằng một suất thừa kế. Bà không có tài liệu, chứng cứ cung cấp đối với yêu cầu trích chia công sức của mình. Nay bà N hoàn toàn phản đối các đồng thừa kế đòi chia thửa đất này thành 05 phần bằng nhau cho các đồng thừa kế, bởi lẽ: Một: Bà N phải có 50% công tôn tạo, bồi trúc gìn giữ làm tăng giá trị mảnh đất. Hai: Diện tích đất bố mẹ chồng bà N được Nhà nước công nhận là 870m², số đất còn lại là do gia đình bà N khai phá mà có. Số diện tích 201m² chưa được Nhà nước công nhận và do gia đình bà N khai phá thì không thể đem ra chia. Ba: Trong diện tích đất 1071m² đã bị UBND xã đưa vào cân đối đất nông nghiệp 500m² chia theo Nghị định 64. Vậy số đất nông nghiệp này là của gia đình bà N nên các đồng thừa kế không thể đem chia. Bốn: Theo phong tục truyền thống dân tộc Việt Nam, nhà thờ giao cho con trưởng, cháu trưởng, chắt trưởng truyền đời giữ gìn hương hỏa dòng họ, không thể trích ra giao cho ông T3 (con thứ) quản lý, nên giao nhà thờ cho con trai trưởng bà N quản lý. Năm: Nếu công nhận đất nhà thờ thì phải công nhận đất đã cho hai con bà N là anh H và anh T1, vì hai con bà N làm nhà đã được sự nhất trí của đồng thừa kế. Trích 03 phần đất này ra còn bao nhiêu mới chia. Nếu không thống nhất trích đất cho anh H và anh T1 thì cũng không thể trích đất nhà thờ họ ra mà phải đưa đất nhà thờ vào chia chung. Đối với đất gia đình ông T3 ở là do bố mẹ chồng bà N mua nên đó cũng là tài sản chung của các đồng thừa kế, yêu cầu đưa vào để chia đều cho các đồng thừa kế. Đất thừa kế là của ông cố để lại nên chỉ có bà Bùi Thị M là đồng thừa kế với bố chồng bà N được quyền khởi kiện. Vì vậy cần phải bác đơn khởi kiện của nguyên đơn bà Bùi Thị T, vì bà T không đủ tư cách khởi kiện. Ông Bùi Ngọc T3 có hành vi phá dỡ ngôi nhà cấp bốn 05 gian là di sản của cụ K và cụ H1 để lại. Ông T3 có hành vi phạm tội hủy hoại tài sản nên đề nghị HĐXX xem xét, giải quyết trong vụ án này.
Tại Biên bản lấy lời khai ngày 27/01/2023, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Trần Thị L1 trình bày: Chị là vợ của anh Bùi Văn T1, là cháu dâu của cụ K và cụ H1. Chị không nhớ rõ thời gian kết hôn với anh T1, nhưng có đăng ký kết hôn tại UBND xã Q. Cụ K và cụ H1 có 05 người con chung như bà N trình bày. Hai cụ có con nuôi, con riêng hay không, chị không biết. Quá trình chung sống chị không biết hai cụ tạo lập được tài sản chung là gì. Sau khi cưới về vợ chồng chị chung sống với mẹ chồng là bà N, vợ chồng anh H, chị L tại thửa đất số 331, tờ bản đồ số 2, diện tích 870m² tại thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Chị nghe bà N nói đây là thửa đất của ông bà nội anh T1 để lại. Khi chị lấy anh T1, cụ K và cụ H1 đã chết lâu rồi, chị không biết thời gian hai cụ chết, cũng không biết có ai để lại di chúc không. Vợ chồng chị được bà N cho một phần đất để làm nhà ở, chiều rộng mặt bám đường khoảng 10m, chiều dài hết đất, xây dựng năm 2021. Vợ chồng chị đã xây nhà ống mái bê tông cốt thép, có tầng chờ, xây dựng bờ bao. Khi xây nhà đã được anh em, gồm các o, chú họp bàn thống nhất, chỉ nói miệng chứ không lập văn bản gì. Chị không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Bùi Thị T. Phần đất vợ chồng chị đang quản lý, sử dụng đã được các o, chú cho xây dựng nên mới làm nhà. Anh T1 là nhân viên giao hàng, làm việc ở địa phương nhưng do bận công việc nên không sắp xếp thời gian đến Tòa án làm việc được. Anh T1 đã biết được việc khởi kiện nhưng cũng không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà T, không đồng ý chia đất.
Tại bản tự khai ngày 11/11/2022, bị đơn anh Bùi Ngọc H trình bày: Anh là con của ông Bùi Ngọc S và bà Nguyễn Thị N. Anh thống nhất thửa đất số 331, tờ bản đồ số 2, diện tích 870m² tại thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An hiện nay vợ chồng anh và chị L, vợ chồng anh T1, chị L1 và bà N sinh sống có nguồn gốc do ông bà nội anh là cụ K và cụ H1 để lại. Trên đất có 01 nhà ngói cấp bốn 05 gian được hai cụ xây dựng từ tháng 02/1980, các bức tường xây bằng đá, phía trên là khung xương gỗ tạp, lợp bằng ngói. Qua thời gian căn nhà đã mối mọt, sập sệ, xuống cấp không sử dụng được nữa nên vợ chồng anh được anh em họ tộc, các o, chú cho xây dựng 01 ngôi nhà ống diện tích khoảng 160m² như hiện trạng. Đề nghị Tòa án cho vợ chồng anh được sử dụng phần đất đã xây nhà để thờ cúng ông bà nội và bố anh là ông Bùi Ngọc S. Anh không nhận việc quản lý, trông coi nhà thờ vì bận công việc.
Tại bản trình bày ý kiến ngày 12/09/2023, bị đơn anh Bùi Văn T1 trình bày: Anh nhất trí với ý kiến trình bày của mẹ anh là bà N và bổ sung một số ý kiến như sau: Bố mẹ anh là ông Bùi Ngọc S và bà Nguyễn Thị N là vợ chồng hợp pháp. Ông S, bà N sinh được 03 người con, gồm: Bùi Văn T1, Bùi Thị B và anh Bùi Ngọc H. Năm 2010 bố anh mất. Nguyên gia đình anh ở trên thửa đất số 331, tờ bản đồ số 02, diện tích 870m² (Bản đồ 299) ở xóm A, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An; nay là thửa đất số 51, tờ bản đồ số 14, diện tích 1071m² tại thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Thửa đất trên là do ông bà nội anh là ông Bùi Văn K và bà Nguyễn Thị H1 để lại cho bố anh (là con trai trưởng) ở. Năm 2006, các bác, các chú bên nội đã tháo dỡ căn nhà ngang 03 gian để làm móng nhà thờ nhưng bị bác T4 (là chị bố anh) ngăn cản nên chưa xây được nhà thờ. Năm 2011, do nhà cấp bốn bị hư hỏng không ở được nữa nên mẹ anh có dựng 01 nhà túp lều bằng tôn phía sau nhà để ở cùng các con. Năm 2021, anh và anh H có nhu cầu làm nhà ở thì các bác, các chú nên nội gồm bác T, bác T2, chú T3 cùng các chú con ông Bùi Văn S1, gồm chú L4, chú Q2, chú P, chú N1 (Thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An) cùng đến dự họp bàn để giải quyết. Anh, mẹ anh cùng các anh, em bị cho là hàng dưới không cho dự họp và thảo luận bất cứ việc gì liên quan đến nhà và đất, mọi người cũng không cho anh ý kiến gì cả mặc dù đó là nhà thờ họ Bùi chứ không phải thờ riêng ông, bà, bố anh. Mọi người họp và đi đến thống nhất cắt 5 đến 6m để làm nhà thờ; cho anh 01 miếng sát nhà thờ với chiều rộng phía trước là 10m, phía sau rộng 9m; cho anh H 01 miếng đất phía trước rộng 13m, phía sau rộng 12m và cho chú T3 diện tích ngang 6m. Tất cả thống nhất nhưng không có ý kiến của anh, anh H và bà N. Bà bác là bà M bỏ ra 70.000.000 đồng góp vào xây dựng nhà thờ.
Cuối năm 2021, anh H xây nhà. Đầu năm 2022 anh xây nhà trên phần đất đã được phân chia. Lúc xây nhà anh H, có ông T3 trực tiếp trông coi, lúc anh xây nhà do ông N1 thầu. Tháng 06/2022 ông T3 đến dỡ gian nhà cấp bốn 05 gian rồi đòi dỡ luôn túp lều mẹ anh đang ở thì anh không cho vì ông T3 đòi 8m, không đúng với thỏa thuận nên xảy ra tranh chấp. Anh đồng ý với ý kiến của bà N, chia đều diện tích thừa kế mà mẹ anh và các con được hưởng phần của bố anh là ông S. Anh không đồng ý chia diện tích đất để làm nhà thờ. Đối với phần đất của anh đã xây nhà, anh không đồng ý chia, mẹ anh ở với anh H là con trưởng là hợp lý.
Tại phiên tòa chị Bùi Thị B trình bày: Chị thống nhất với lời khai của bà N về họ tên, năm sinh, năm chết của cụ K, cụ H1, họ tên, năm sinh của các con chung, di sản thừa kế để lại. Chị đồng ý chia di sản thừa kế của cụ K và cụ H1 để lại theo pháp luật. Đối với kỷ phần thừa kế bằng hiện vật chị được nhận, chị đồng ý giao lại cho mẹ là bà Nguyễn Thị N được sử dụng, không yêu cầu bà N trích trả giá trị cho chị.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đứng về phía nguyên đơn: Bà Bùi Thị T2, ông Nguyễn Ngọc T6, ông Hồ Hữu C1, chị Hồ Thị Q, chị Hồ Thị L đều thống nhất trình bày:
Các đương sự đều thống nhất với trình bày của nguyên đơn và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn về họ tên, năm sinh, năm chết của cụ K và cụ H1, họ tên, năm sinh, năm chết của bà T4 và ông S.
Nguồn gốc thửa đất số 331, tờ bản đồ số 2, diện tích 870m² (Bản đồ 299) tại thôn H (xóm A cũ), xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Nay là thửa đất 51, tờ bản đồ 14, diện tích 1071,7m² là do cụ H1 và cụ K để lại. Cụ K và cụ H1 chết không ai để lại di chúc. Sau khi cụ K và cụ H1 chết vợ chồng ông S, bà N ở trên thửa đất đó từ đó cho đến nay. Trên đất hiện nay có các tài sản, đặc điểm và giá trị tài sản theo Biên bản định giá tài sản ngày 01/06/2023.
Các đương sự đều thống nhất với yêu cầu của nguyên đơn: Đồng ý phân chia di sản thừa kế của cụ Bùi Văn K và cụ Nguyễn Thị H1 để lại theo pháp luật, là thửa đất số 331, tờ bản đồ số 2, diện tích 870m² (Bản đồ 299) tại thôn H (Xóm A cũ), xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An; nay là thửa đất 51, tờ bản đồ 14, diện tích 1071,7m², cụ thể: Trích 150m² đất để xây dựng nhà thờ họ, các anh, chị, em đã thống nhất, thỏa thuận và đã xây dựng nhà thờ giao cho ông Bùi Ngọc T3 hoặc anh Bùi Ngọc H sử dụng. Phần diện tích đất thực tế còn lại 921,7m² chia đều cho các đồng thừa kế thành 06 phần bằng nhau: Chia cho bà Nguyễn Thị N, anh Bùi Ngọc H, anh Bùi Văn T1 và chị Bùi Thị B được hưởng 02 kỷ phần thừa kế; chia cho ông Bùi Ngọc T3 01 kỷ phần thừa kế, là phần đất giáp nhà nhờ; chia cho bà Bùi Thị T, bà Bùi Thị T2, ông Hồ Hữu C1, chị Hồ Thị Q và anh Hồ Điện Q1 được hưởng chung 03 kỷ phần thừa kế; trả lại cho bà N giá trị tài sản mà bà N đã xây dựng. Phần diện tích bà N, anh T1 và chị B đã sử dụng nếu vượt quá phải trả lại giá trị bằng tiền cho các hàng thừa kế khác; không yêu cầu anh H phải trả lại bằng giá trị vì hoàn cảnh kinh tế anh H còn khó khăn. Đối với 01 nhà ngói 05 gian do cụ K và cụ H1 xây dựng từ năm 1980 hiện không còn giá trị sử dụng, không ai yêu cầu chia thừa kế đối với tài sản này. Đối với phần khuôn viên nhà thờ giao cho ông T3 quản lý, sử dụng. Nay ông T3 không quản lý, sử dụng nhà thờ thì đồng ý giao cho anh H quản lý, sử dụng. Nếu anh H không quản lý, sử dụng thì giao cho đồng thừa kế quản lý, sử dụng chung. Về việc bị đơn bà N, người đại diện theo ủy quyền của bà N và người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho bà N khai nại ông T3 tự ý phá dỡ ngôi nhà cấp bốn 05 gian là di sản của cụ K, cụ H1 để lại là không đúng. Khi ông T3 tháo dỡ nhà thì nhà đã xuống cấp không sử dụng được và có sự đồng ý của bà N; khi tháo dỡ có chị L là con dâu bà N phục vụ nước uống và các đồng thừa kế đồng ý; từ trước đến nay bà N không có khiếu nại gì. Đối với việc bà N tự ý ủy quyền cho ông Nguyễn Văn D mượn bìa đỏ mang tên ông Bùi Văn K là không đúng. Bà N phải có nghĩa vụ lấy bìa đất về khi có yêu cầu. Tại phiên tòa hôm nay các đồng thừa kế không có yêu cầu gì.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Hồ Điện Q1 trình bày: Anh thống nhất với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Anh đề nghị xét xử vắng mặt. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, chị Hồ Thị Q trình bày: Chị nhất trí với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Phần chị được nhận thừa kế từ mẹ chị thì chị đồng ý giao cho bố chị là ông Hồ Hữu C1 sử dụng; không yêu cầu ông C1 trích trả giá trị bằng tiền.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, đại diện Hội nông dân xã Q, ông Nguyễn Văn L2 trình bày:
Ông làm Chủ tịch Hội nông dân xã Q từ năm 2015 đến nay, bà Nguyễn Thị N không vay vốn tại Hội Nông dân xã Q. Bà N cho ông Phạm Văn D1 (Anh rể bà N) mượn Giấy chứng nhận QSDĐ tên Bùi Văn K để đảm bảo cho khoản vay. Khoản vay của ông Phạm Văn D1 đứng tên bà Hồ Thị C2 số tiền 40.000.000 đồng. Bà N và ông D1 có ký giấy ủy quyền có nội dung: Bà N ủy quyền cho ông D1 được quyền sử dụng bìa đất số hiệu X1-096 QSDÐ/30- QĐUB mang tên Bùi Văn K để vay vốn Hội nông dân xã để phục vụ sản xuất, kinh doanh và chăn nuôi. Bà N không ký hợp đồng thế chấp. Mục đích Hội nông dân giữ bản gốc Giấy chứng nhận QSDĐ mang tên ông Bùi Văn K để đảm bảo cho khoản vay của bà Hồ Thị C2 (Ông Phạm Văn D1 đứng ra trả). Trường hợp ông D1 không trả được nợ thì Hội nông dân xã Q không có quyền xử lý tài sản là quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận QSDĐ của ông Bùi Văn K. Hội nông dân sẽ trả lại bìa đất khi người vay thanh toán hết các khoản nợ.
Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ, biên bản định giá ngày 01/06/2023, như sau: Thửa đất số 331, tờ bản đồ số 02, diện tích 870m² (Bản đồ 299) tại thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An, tức thửa đất số 51, tờ bản đồ số 14, diện tích 1071,7m² (Bản đồ số). Theo kết quả đo đạc của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Q ngày 20/07/2023 (Sau khi trừ đi phần diện tích 45,5m² tặng làm đường nông thôn mới), diện tích còn lại 1026,2m². Trị giá đất ở 7.000.000đ/m², trị giá đất vườn 3.500.000đ/m². Thửa đất có tứ cận: Phía Bắc giáp thửa đất số 45, tờ bản đồ 14, kích thước 21,6m +1,49m + 2,22m; phía Nam giáp thửa đất số 66, tờ bản đồ 14, kích thước 2,13m + 2,62m + 3,85m + 0,6m + 1,52m + 0,34m + 0,12m + 4,05m + 0,12m +9,68m + 4,94m + 10,34m; phía Đông giáp đường bê tông xóm, kích thước 17,46m +5,13m +5,13m + 13,99m; phía Tây giáp thửa đất số 50, tờ bản đồ 14, kích thước 1,2m+0,23m + 6,94m + 5,29m + 8,19m, giáp thửa đất số 34, tờ bản đồ 14, kích thước 2,54m. Tổng giá trị thửa đất là 4.291.700.000₫ (Bốn tỷ hai trăm chín mươi mốt triệu bảy trăm nghìn đồng). Các tài sản trên đất, gồm có:
Phần khuôn viên nhà thờ gồm: Nhà thờ mái ngói, cấp bốn, tường xây sò tạp lô, vì kèo gỗ, tường sơn, cửa sổ, diện tích 32,45m², trị giá 110.000.000 đồng; tường xây sò táp lô, không da trát diện tích 24,4m², trị giá 3.000.000 đồng; mái che bằng tôn thường, diện tích 42,1m, trị giá 13.000.000 đồng; Sân láng xi măng, diện tích 42,16m², trị giá 5.000.000 đồng; trụ cổng xây sò tap lô, kích thước 40cm x 40cm x 1,9m, trị giá 2.200.000 đồng; cánh cổng bằng sắt, cao 2m x 1,85m, trị giá 2.000.000 đồng. Phần khuôn viên anh Bùi Ngọc T5 sử dụng:
Anh Bùi Văn T1, chị Trần Thị L1 sử dụng phần diện tích 188,3m². Phía Bắc giáp phần đất anh H đang sử dụng, kích thước 24,86m + 4,96m + 2,31m; phía Nam giáp đất phần đất trống của thửa đất số 51, kích thước 25,89m + 6,12m + 1,1m; phía Đông giáp đường bê tông xóm, dài 5,13m; phía Tây giáp thửa đất số 50, dài 0,23m + 6,94m. Trên đất có các tài sản như sau: Nhà ở mái đổ bê tông cốt thép, có vẽ tăng đa, tường xây sò táp lên Đường sơn, nền lát gạch liên doanh, diện tích 149,2m², trị giá 385.000.000 đồng; nhà bếp, nhà vệ sinh, nhà tắm khép kín, tường xây sò táp lô, mái che bằng tôn chống nóng, diện tích 23,92m², trị giá 40.000.000 đồng; tương bao phía Nam, kích thước 9,6m x 1,6m; tường bao phía Đông, kích thước (10,4m x 1,5m) + (1,3m x 1,4m), tổng diện tích 32,78m², trị giá 2.900.000 đồng; chuồng gà xây sò, mái proximang, không da trát, kích thước 3,1m x 21,7m, diện tích 6,5m², trị giá 4.800.000 đồng; thùng nước bằng ống cống, có nắp đậy, đường kính 1,2m, cao 2,5m, trị giá 1.300.000 đồng; 02 trụ cổng xây sò tiết diện 50cm x 50cm x 2,8m, trị giá 2.800.000 đồng; cánh cổng bằng thép phi 21, hoa văn thép, kích thước 2,5m x 2,1m, trị giá 2.500.000 đồng; sân láng xi măng, kích thước 5m x 6,8m, trị giá 3.200.000 đồng.
Phần khuôn viên anh Bùi Ngọc H sử dụng: Anh Bùi Ngọc H, chị Hồ Thị L sử dụng phần diện tích 160,7m² đất có tứ cận: Phía Bắc giáp phần đất trống của thửa 51 (Bà N đang sử dụng), kích thước 23,97m + 3,82m + 2.43m; phía Nam giáp phần đất anh Bùi Văn T1 đang sử dụng, kích thước 24,86m + 4,96m + 2,31m; phía Đông giáp đường bê tông xóm, kích thước 5,13m; phía Tây giáp thửa đất số 50, kích thước 5,29m. Trên đất có các tài sản: Nhà ở mái đổ bê tông cốt thép, tường xây sò, nền lát gạch liên doanh, tường sơn kích thước 16,3m x 5,2m, diện tích 84,76m², trị giá 305.000.000 đồng; nhà bếp tường xây sò tap lỗ, mái lợp tôn chống nóng, kích thước 5,2m x 2,3m, diện tích 37,96m², trị giá 52.000.000 đồng; tường bao có da trát, xây sò táp lô, diện tích 27,55m², trị giá 3.200.000 đồng; sân láng xi măng, kích thước 4,75 x 6,1m, trị giá 2.800.000 đồng; 02 trụ cổng xây sò tap lô tiết diện 40cm x 40cm x 2m, trị giá 2.200.000 đồng; cánh cổng bằng sắt phi 21 hoa văn, kích thước 2,5m x 2,1m, trị giá 2.000.000 đồng.
Phần khuôn viên bà Nguyễn Thị N sử dụng: Phần khuôn viên bà Nguyễn Thị N sử dụng có diện tích 336m². Phần đất có tứ cận: Phía Bắc giáp thửa đất số 45, kích thước 21,6m + 1,49m +2,22m; phía Nam giáp phần đất anh Bùi Ngọc H sử dụng, kích thước 23,97m + 3,83m + 2,43m; phía Đông giáp đường bê tông xóm, dài 13,99m; phía Tây giáp thửa đất số 34, kích thước 2,54m, giáp thửa đất số 50, kích thước 8,19m. Trên đất có các tài sản do bà N xây dựng gồm: Nhà ở cấp bốn, mái lợp tôn, tường xây sò tap lô diện tích 25,9m², trị giá 26.000.000 đồng; nhà vệ sinh không có tự hoại, nhà tắm, diện tích 1,6m x1,78m x cao 2,5m, trị giá 2.000.000 đồng; bể nước đổ bê tông cốt thép, có nắp đậy 1,1m x 1,5m x 1,3m, trị giá 1.800.000 đồng; bể nước đổ bê tông cốt thép, có nắp đậy, đường kính 1,2m, cao 1m, trị giá 800.000 đồng; 01 cây nhãn đường kính 60cm, trị giá 400.000 đồng; tường bao xây sò không da trát phía Đông, kích thước 8,65m x 1,15m, diện tích 10,38m², trị giá 900.000 đồng.
Kết quả xác minh tại Ủy ban nhân dân xã Q như sau: Thửa đất 331, tờ bản đồ số 2, diện tích 870m², tại thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An; nay là thửa đất số 51, tờ bản đồ số 14, diện tích 1071,1m² (Đo theo bản đồ địa chính dạng số). Quá trình sử dụng đất chủ sử dụng đất có hiến phần diện tích 45,5m² đất về phía Đông để mở rộng đường nông thôn, diện tích thực tế sử dụng còn lại là 1026,2m². Diện tích tăng 201,7m² so với bản đồ 299 là do đo đạc lại bản đồ qua các thời kỳ, ranh giới, mốc giới thửa đất không thay đổi, không tranh chấp với các chủ sử dụng đất liền kề; quá trình sử dụng đất ổn định, không lấn chiếm, không vi phạm quy hoạch. Phần diện tích tăng nằm trong phạm vi được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, phần diện tích tăng được xác định là đất trồng cây hàng năm.
Bản án số 33/2023/DS-ST ngày 02/10/2023 của Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An đã quyết định:
1. Căn cứ các Điều 147, 184, 283 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, các Điều 12, 26, 27 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; các Điều 149, 609, 611, 612, 613, 614, 623, 649, 650, 651, 652 Bộ luật dân sự năm 2015; các Điều 166 và 167 Luật đất đai năm 2013; các Điều 33 và 66 Luật Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Bùi Thị T. Phân chia thửa đất số 331, tờ bản đồ số 02, diện tích 870m² (Bản đồ 299) tại thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An, tức thửa đất số 51, tờ bản đồ số 14, diện tích 1026,2m² (Bản đồ số), theo pháp luật.
1.1. Giao diện tích đất 150m² (trong đó 20m² đất ở và 130m² đất trồng cây hàng năm), trong số 1026,2m² tại thửa đất số 51, tờ bản đồ 14 tại thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An cho các đồng thừa kế là: Ông Bùi Ngọc T3, anh Bùi Ngọc H, anh Bùi Văn T1, chị Bùi Thị B, bà Nguyễn Thị N, bà Bùi Thị T, bà Bùi Thị T2, ông Hồ Hữu C1, anh Hồ Điện Q1 và chị Hồ Thị Q được quản lý, sử dụng chung. Phần đất này có tứ cận như sau: Phía Bắc giáp phần đất giao cho ông Bùi Ngọc T3 sử dụng, dài 22,43m; phía Nam giáp thửa đất số 66, tờ bản đồ 16, dài 2,13m + 2,62m + 3,85m +1,52m+0,6m + 0,34m+4,05m + 0,12m+9,68m; phía Đông giáp đường bê tông, dài 8,09m; phía Tây giáp thửa đất số 50, dài 3,74m và được quyền sở hữu chung các tài sản trên đất, là: Nhà thờ mái ngói, cấp bốn, tường xây sò tạp lô, vì kèo gỗ, tường sơn, cửa sổ, diện tích 32,45m², trị giá 110.000.000 đồng; tường xây sò táp lô, không da trát, diện tích 24,4m², trị giá 3.000.000 đồng; mái che bằng tôn thường, diện tích 42,1m², trị giá 13.000.000 đồng; sân láng xi măng, diện tích 42,16m², trị giá 5.000.000 đồng; trụ cổng xây sò tạp lô, kích thước 40cm x 40cm x 1,9m, trị giá 2.200.000 đồng; cánh cổng bằng sắt cao 2m x 1,85m, trị giá 2.000.000 đồng. Tổng giá trị quyền sử dụng đất và các tài sản trên đất là 730.200.000 đồng. Giá trị mỗi người được hưởng là 73.020.000đ (bảy mươi ba triệu không trăm hai mươi nghìn đồng).
1.2. Giao cho ông Bùi Ngọc T3 được quyền sử dụng phần đất có diện tích 191,2m² (Trong đó 30m² đất ở và 161,2m² đất vườn), trị giá 774.200.000 đồng; phần đất này có tứ cận như sau: Phía Bắc giáp đất giao cho anh Bùi Văn T1, dài 25,89m + 6,12m + 1,1m; phía Nam giáp phần đất nhà thờ kích thước 22,43m; phía Đông giáp đường xóm, dài 9,6m; phía Tây giáp thửa đất số 50, kích thước 1,2m và giáp thửa đất số 66, kích thước 10,34m+1,21m.
1.3. Giao cho anh Bùi Văn T1 được quyền sử dụng phần diện tích 188,3m² (Trong đó 30m² đất ở và 158,3m² đất trồng cây hàng năm), trị giá 764.050.000 đồng; phần đất này có tứ cận như sau: Phía Bắc giáp phần đất giao cho anh H, bà N sử dụng, kích thước 24,86m + 4,96m + 2,31m; phía Nam giáp phần đất giao cho ông T3 sử dụng, kích thước 25,89m + 6,12m + 1,1m; phía Đông giáp đường bê tông xóm, dài 5,13m; phía Tây giáp thửa đất số 50, kích thước 6,94m + 0,23m.
Giao cho anh T1, chị L1 được sử dụng các tài sản trên đất do anh T1, chị L1 xây dựng, gồm: Nhà ở mái đổ bê tông cốt thép, có vê tăng đa, tường xây sò táp lô, tường sơn, nền lát gạch liên doanh, diện tích 149,2m², trị giá 385.000.000 đồng; nhà bếp, nhà vệ sinh, nhà tắm khép kín, tường xây sò táp lô, mái che bằng tôn chống nóng, diện tích 23,92m², trị giá 40.000.000 đồng; tường bao phía Nam, kích thước 9,6m x 1,6m, tường bao phía Đông, kích thước (10,4m x 1,5m) + (1,3m x 1,4m); tổng diện tích 32,78m², trị giá 2.900.000 đồng; chuồng gà xây sò, mái proximang, không da trát, kích thước 3,1m x 21,7m, diện tích 6,5m², trị giá 4.800.000 đồng; thùng nước bằng ống cống, có nắp đậy, đường kính 1,2m, cao 2,5m, trị giá 1.300.000 đồng; 02 trụ cổng xây sò, tiết diện 50cm x 50cm x 2,8m, trị giá 2.800.000 đồng; cánh cổng bằng thép phi 21 hoa văn thép, kích thước 2,5m x 2,1m, trị giá 2.500.000 đồng; sân láng xi măng, kích thước 5m x 6,8m, trị giá 3.200.000 đồng.
1.4. Giao cho anh Bùi Ngọc H và bà Nguyễn Thị N được quyền sử dụng chung phần diện tích 160,7m² (Trong đó 30m² đất ở và 130,7m² đất vườn), trị giá 667.450.000 đồng; phần đất này có tứ cận như sau: Phía Bắc giáp phần đất giao cho ông Hồ Hữu C1, bà Bùi Thị T và bà Bùi Thị T2, kích thước 23,97m + 3,82m + 2,43m; phía Nam giáp phần đất giao cho anh Bùi Văn T1 sử dụng, kích thước 24,86m + 4,96m + 2,31m; phía Đông giáp đường bê tông xóm, kích thước 5,13m; phía Tây giáp thửa đất số 50, kích thước 5,29m.
Giao cho anh Bùi Ngọc H, chị Hồ Thị L và bà Nguyễn Thị N được sử dụng: Nhà ở mái đổ bê tông cốt thép, tường xây sò, nền lát gạch liên doanh, tường sơn kích thước 16,3m x 5,2m, diện tích 84,76m², trị giá 305.000.000 đồng; nhà bếp tường xây sò táp lô, mái lợp tôn chống nóng, diện tích 37,96m², trị giá 52.000.000 đồng; tường bao có da trát, xây sò táp lô, diện tích 27,55m², trị giá 3.200.000 đồng; sân láng xi măng, kích thước 4,75 x 6,1m, trị giá 2.800.000 đồng; 02 trụ cổng xây sò tap lô, tiết diện 40cm x 40cm x 2m, trị giá 2.200.000 đồng; cánh cổng bằng sắt phi 21 hoa văn, kích thước 2,5m x 2,1m, trị giá 2.000.000 đồng.
1.5. Giao cho bà Bùi Thị T, bà Bùi Thị T2 và ông Hồ Hữu C1 được quyền sử dụng phần diện tích 336m2 (Trong đó 90m² đất ở và 246m² đất trồng cây hàng năm), trị giá 1.491.000.000 đồng; phần đất này có tứ cận như sau: Phía Bắc giáp thửa đất 45, tờ bản đồ 16, kích thước 21,6m + 1,49m + 2,22m; phía Nam giáp phần đất giao cho anh Bùi Ngọc H, dài 23,96m + 3,82m + 2,43m; phía Đông giáp đường bê tông xóm, dài 13,99m; phía Tây giáp thửa đất số 34, dài 2,54m và giáp thửa đất số 50, dài 8,19m và được quyền sở hữu các tài sản do bà N xây dựng, gồm: Nhà ở cấp bốn, mái lợp tôn, tường xây sò táp lô, diện tích 25,9m², trị giá 26.000.000 đồng; nhà vệ sinh không có tự hoại, nhà tắm, diện tích 1,6m x 1,78m x cao 2,5m, trị giá 2.000.000 đồng; bể nước đổ bê tông cốt thép, có nắp đậy, diện tích 1,1m x 1,5m x 1,3m, trị giá 1.800.000 đồng; bể nước đổ bê tông cốt thép có nắp đậy đường kính 1,2m, cao 1m, trị giá 800.000 đồng; 01 cây nhãn đường kính 60cm, trị giá 400.000 đồng; tường bao xây sò không da trát phía Đông, kích thước 8,65m x 1,15m, diện tích 10,38m², trị giá 900.000 đồng. Tổng giá trị các tài sản là 31.900.000 đồng.
1.6. Bà Bùi Thị T, ông Hồ Hữu C1 và bà Bùi Thị T2 có nghĩa vụ giao cho bà Nguyễn Thị N giá trị các tài sản trên đất là 31.900.000 đồng; mỗi người phải giao là 10.064.000đ (mười triệu không trăm sáu mươi bốn nghìn đông).
1.7. Bà Nguyễn Thị N được nhận số tiền 31.900.000 đồng do bà T, bà T2 và ông C1 giao lại; mỗi người phải giao là 10.064.000đ (mười triệu không trăm sáu mươi bốn nghìn đồng).
1.8. Anh Bùi Văn T1 có nghĩa vụ giao lại cho anh Bùi Ngọc T3, bà Bùi Thị T, bà Bùi Thị T2 và ông Hồ Hữu C1 số tiền 100.279.000 đồng, vượt quá kỷ phần thừa kế được hưởng (mỗi người được nhận 22.069.750 đồng).
1.9. Ông Bùi Ngọc T3, bà Bùi Thị T, bà Bùi Thị T2 và ông Hồ Hữu C1 được nhận số tiền 100.279.000 đồng; cụ thể mỗi người được nhận 25.069.750đ (hai mươi chín triệu bốn trăm sáu mươi mốt nghìn hai trăm năm mươi đồng) do anh T1 giao lại.
Ngoài ra bản án còn tuyên án phí, nghĩa vụ thi hành án dân sự và quyền kháng cáo.
Ngày 11/10/2023 bà N, anh T1, chị L cùng kháng cáo với nội dung: Đề nghị cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm số 33/2023/DSST ngày 02/10/2023 của Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu để xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm với lý do: Bản án sơ thẩm chia thừa kế không đúng quy định của pháp luật; tước quyền có nơi ở của công dân; nhận định phiến diện, một chiều đi ngược lại nguyện vọng của bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; bỏ lọt hành vi vi phạm pháp luật của ông Bùi Ngọc T3 vì “hủy hoại tài sản”; không xem xét ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn tại phiên tòa; không ghi nhận đầy đủ ý kiến của Kiểm sát viên.
Ngày 31/10/2023 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An đã có quyết định kháng nghị số 2151/QĐ-VKS-DS đối với bản án dân sự sơ thẩm số 33/2023/DS-ST ngày 02/10/2023 của Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An do có các vi phạm: 1. Không đưa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng; 2. Giải quyết vụ án không đúng quy định của pháp luật (tính phần anh Bùi Văn T1 được hưởng không đúng, giải quyết vượt quá phạm vi yêu cầu của đương sự); 3. Quyết định của bản án chưa chính xác, đầy đủ; 4. Vi phạm quy định về án phí dân sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn và bị đơn thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm ghi nhận thỏa thuận; Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An thay đổi nội dung kháng nghị, đề nghị chấp nhận sự thỏa thuận của các đương sự về việc giải quyết vụ án.
Phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tại phiên tòa:
Về việc tuân theo pháp luật của những người tiến hành tố tụng: Trong quá trình chuẩn bị xét xử phúc thẩm, Thẩm phán được phân công đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng trình tự, thủ tục tại phiên tòa.
Về việc chấp hành pháp luật của các đương sự: Nguyên đơn, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, bị đơn, đại diện theo ủy quyền của bị đơn đã chấp hành đúng quy định tại các Điều 70,71 và Điều 249 của Bộ luật tố tụng dân sự. Quyền tranh tụng của các đương sự được đảm bảo.
Về thủ tục kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn kháng cáo trong thời hạn luật định, thuộc trường hợp được miễn án phí nên được Tòa án cấp phúc thẩm thụ lý, giải quyết là đúng quy định của pháp luật.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An là có căn cứ, các nội dung sai sót cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm. Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 300, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, ý kiến của các đương sự, ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa về việc giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1] Tố tụng:
- [1.1] Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn kháng cáo trong thời hạn luật định, nộp tạm ứng án phí phúc thẩm theo quy định nên xác định kháng cáo hợp lệ.
- [1.2] Một số đương sự vắng mặt nhưng đã có người đại diện theo ủy quyền có mặt tham gia tố tụng hoặc có đơn xin xử vắng mặt. Một số đương sự vắng mặt không có người ủy quyền, không có đơn xin xử vắng mặt, tuy nhiên những người này đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt họ theo quy định tại Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
- [2] Nội dung:
- [2.1] Xét kháng cáo của bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [2.1.1] Xác định quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Căn cứ nội dung đơn khởi kiện của bà Bùi Thị T, Tòa án cấp sơ thẩm xác định vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An, theo quy định tại khoản 5 Điều 26, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 là đúng quy định của pháp luật.
- [2.1.2] Về xác định tư cách tham gia tố tụng: Tòa án cấp sơ thẩm xác định nguyên đơn bà Bùi Thị T; các bị đơn gồm bà Nguyễn Thị N, anh Bùi Ngọc H, anh Bùi Văn T1; những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm: bà Bùi Thị T2, ông Bùi Ngọc T3, ông Hồ Hữu C1, chị Hồ Thị Q, anh Hồ Điện Q1, chị Bùi Thị B, Hồ Thị L, Trần Thị L1 và Hội nông dân xã Q, huyện Q. Trong vụ án này có bà Bùi Thị M là người tự nguyện đóng góp 70.000.000đ (bảy mươi triệu đồng) xây dựng nhà thờ hiện có trên thửa đất tranh chấp. Quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm, bà Bùi Thị M đã có ý kiến tại Đơn trình bày đề ngày 13/9/2023 với nội dung: Nguồn gốc của thửa đất trên do bố mẹ bà M để lại, sau này được vợ chồng ông K quản lý, sử dụng đồng thời chịu trách nhiệm lo liệu việc thờ cúng ông bà, tổ tiên. Vì vậy, việc ông Bùi Văn K sau này được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất trên là đúng đắn, các anh chị em trong gia đình không ai có ý kiến thắc mắc, phản đối. Khi ông K mất, các con, cháu cùng thống nhất trích một phần đất là 150m2 trong tổng diện tích 1071,7m² để xây một căn nhà 03 gian và khuôn viên phục vụ mục đích thờ cúng tổ tiên. Đến năm 2018, bà M quyết định cho các cháu số tiền 70.000.000đ để góp thêm vào xây dựng nhà thờ. Bà M có nguyện vọng trích phần đất 150m² hiện có nhà thờ và khuôn viên để phục vụ mục đích chung thờ cúng tổ tiên. Trong vụ án này bà M không có tranh chấp hay đòi hỏi gì về việc phân chia di sản thừa kế. Số tiền 70 triệu đồng ba M đóng góp vào xây dựng nhà thờ, nếu sau này Tòa án giao cho người có trách nhiệm trông coi thờ cúng thì không yêu cầu trích lại số tiền bà M đã đóng góp. Do điều kiện ở xa, hơn nữa cũng đã cao tuổi nên không có điều kiện để tham gia phiên tòa nên bà M đề nghị Tòa án giải quyết vụ án mà không cần sự tham gia bà M” (bút lục 150). Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm không đưa bà M vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Tại phiên tòa phúc thẩm, bà M vắng mặt, tuy nhiên tại đơn trình bày đề ngày 20/3/2024 gửi Tòa án cấp phúc thẩm, bà Minh xác đ có đóng góp 70.000.000đ vào xây nhà thờ, không yêu cầu đòi hỏi số tiền trên. Bản án của Tòa án sơ thẩm phân chia thừa kế cho các đồng thừa kế cũng như trích một phần làm nhà thờ là hợp tình, hợp lý, tôi hoàn toàn ủng hộ quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm.
Tòa án cấp sơ thẩm đã thu thập ý kiến của bà M nhưng không đưa bà M vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa là thiếu sót, thiếu sót này đã được cấp phúc thẩm khắc phục, cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm.
- [2.1.3] Xác định thời hiệu khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế: Tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án thể hiện: Cụ K chết năm 1998; cụ H1 chết năm 2011. Ngày 20/06/2022, nguyên đơn bà Nguyễn Thị N khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế đối với di sản thừa kế của cụ K và cụ H1 để lại. Do đó, căn cứ Điều 623 Bộ luật Dân sự năm 2015, xác định thời hiệu chia thừa kế theo pháp luật đối với di sản cụ K, cụ H1 để lại vẫn còn.
- [2.1.4 ] Xác định di sản thừa kế:
Quá trình giải quyết vụ án, các bên đương sự đều thừa nhận thửa đất số 331, tờ bản đồ số 2, diện tích 870m² (Bản đồ 299) tại xóm A, nay là thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An, được Ủy ban nhân dân huyện Q cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 05/02/1996 cho cụ Bùi Văn K, là tài sản chung của cụ K và cụ H1 tạo lập được trong thời kỳ hôn nhân. Lời trình bày của các đương sự phù hợp với tài liệu hồ sơ về thửa đất và kết quả xem xét thẩm định tại chỗ, nên đây là tình tiết không phải chứng minh trong vụ án.
Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được Ủy ban nhân dân huyện Q cấp ngày 05/02/1996, thì thửa đất có diện tích 870m² (trong đó 200m² đất ở, 670m² đất vườn), theo kết quả đo đạc của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Q, diện tích là 1026,2m². Phần diện tích tăng lên là do quá trình đo đạc lại bản đồ qua các thời kỳ; thửa đất không tranh chấp với các hộ sử dụng đất liền kề, phần diện tích tăng thêm đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nằm trong quy hoạch, phần diện tích tăng lên được tính là đất trồng cây hằng năm. Như vậy phần diện tích tăng lên đủ điều kiện tạm giao cho các bên quản lý, sử dụng khi chia di sản thừa kế.
Cụ K chết năm 1998, không có giấy chứng tử nhưng được Ủy ban nhân dân xã Q xác nhận và các đương sự đều thừa nhận; cụ H1 chết năm 2011, có giấy chứng tử, đây là các tình tiết không phải chứng minh trong vụ án.
Di sản thừa kế của cụ K, cụ H1 để lại là thửa đất số 331, tờ bản đồ số 02, diện tích 870m² (Bản đồ 299), tại thôn H (xóm A cũ), xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An, được Ủy ban nhân dân huyện Q cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 05/02/1996, mang tên Bùi Văn K. Nay là thửa đất số 51, tờ bản đồ số 14, diện tích 1026,2m².
- [2.1.5] Về diện và hàng thừa kế:
Cấp sơ thẩm xác định: Cụ Bùi Văn K (sinh năm 1928, chết năm 1998) và cụ Nguyễn Thị H1 (sinh năm 1926, chết ngày 09/6/2011). Cụ K và cụ H1 có 05 người con chung là: Bùi Thị T4 (sinh năm 1949, chết năm 2020, có chồng là Hồ Hữu C1 và 02 con là Hồ Đ và Hồ Thị Q); Bùi Thị T, sinh năm 1955; Bùi Thị T2, sinh năm 1960; Bùi Ngọc S (sinh năm 1966, chết ngày 12/01/2011, có vợ Nguyễn Thị N và 03 con là Bùi Ngọc H, Bùi Văn T1 và Bùi Thị B); Bùi Ngọc T3, sinh năm 1971. Cụ K và cụ H1 không có con nuôi riêng, con riêng.
Bà T4 chết sau cụ K và cụ H1 nên phần thừa kế giao của bà T4 giao cho ông Hồ Hữu C1 (chồng bà T4) và 02 con là anh Hồ Điện Q1 và chị Hồ Thị Q được hưởng.
Ông S chết sau cụ K, chết trước cụ H1 nên phần thừa kế của ông S giao cho 03 con là anh T1, anh H và chị B được hưởng theo quy định tại Điều 652 Bộ luật dân sự năm 2015.
Căn cứ quy định tại các Điều 613, 651 và 652 Bộ luật dân sự năm 2015, thì bà T, bà T2, ông T3, ông C1, anh Q1, chị Q, anh H, anh T1 và chị B là những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ K và cụ H1 là đúng quy định của pháp luật.
- [2.1.6] Xác định công sức quản lý di sản: Tòa án cấp sơ thẩm xác định: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm các đương sự đều thừa nhận, vợ chồng bà N và ông S đã ở chung với cụ K và cụ H1 từ khi kết hôn. Cụ K chết năm 1998, ông S và bà N cùng chung sống với cụ H1, năm 2011, cụ H1 chết, bà N cùng các con tiếp tục quản lý, sử dụng di sản của hai cụ để lại. Bà N có yêu cầu trích trả công sức làm tăng giá trị sử dụng đất. Nguyên đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đều đồng ý trích chia công sức cho bà N bằng 01 suất thừa kế bằng hiện vật. Tòa án cấp sơ thẩm xét chia cho bà N 01 suất thừa kế của cụ H1 là có căn cứ và đúng pháp luật.
- [2.1.7] Về trích diện tích di sản thừa kế làm nhà thờ: Cụ K và cụ H1 chết không để lại di chúc. Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà N và anh T1 đều khai là có họp bàn để chia đất nhưng không cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh. Nguyên đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đề nghị trích 150m² để làm nhà thờ, thờ cúng cụ K và cụ H1, mặc dù anh T1, không đồng ý với ý kiến của nguyên đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về nội dung này vì cho rằng không được tham gia họp, không được có ý kiến, tuy nhiên, xét nhà thờ được xây dựng trên phần đất là di sản của cụ K và cụ H1, mục đích để thờ cúng cụ K cụ H1, đã được xây dựng trước khi bà T có yêu cầu chia thừa kế, anh T1 tuy không được tham gia họp nhưng cũng không có ý kiến phản đối. Do đó, cấp sơ thẩm căn cứ điểm a khoản 1 Điều 650 Bộ luật dân sự năm 2015, trích 150m² đất làm nhà thờ, thờ cúng cụ K, cụ H1 là phù hợp đạo đức xã hội, không trái với quy định của pháp luật. Tại phiên tòa phúc thẩm các được sự thống nhất thỏa thuận trích 150m² làm nơi thờ cúng gia tiên, giao cho các đồng thừa kế của cụ H1 (ông Bùi Ngọc T3, anh Bùi Ngọc H, anh Bùi Văn T1, chị Bùi Thị B, bà Nguyễn Thị N, bà Bùi Thị T, bà Bùi Thị T2, ông Hồ Hữu C1, anh Hồ Điện Q1 và chị Hồ Thị Q) cùng quản lý, sử dụng.
- [2.1.8] Phân chia di sản của cụ Bùi Văn K và cụ H1:
Quá trình giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm các đương sự thống nhất thỏa thuận phân chia di sản thừa kế của cụ K và cụ H1 như sau:
+ Trích 150m² (trong đó 20m² đất ở và 130m² đất trồng cây hàng năm) của thửa đất số 51, tờ bản đồ số 14 tại thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An để sử dụng vào mục đích thờ cúng gia tiên, giao cho các đồng thừa kế của cụ K, cụ H1 (gồm ông Bùi Ngọc T3, anh Bùi Ngọc H, anh Bùi Văn T1, chị Bùi Thị B, bà Nguyễn Thị N, bà Bùi Thị T, bà Bùi Thị T2, ông Hồ Hữu C1, anh Hồ Điện Q1 và chị Hồ Thị Q) quản lý, sử dụng; thửa đất có tứ cận: phía Bắc giáp đất của anh Bùi Ngọc T3 có kích thước 22,43m; phía Nam giáp thửa đất số 66, có kích thước 9,68m + 0,12m + 4,05m + 0.12m + 0,34m + 0,60m + 3,85m + 2,62m + 2,13m; phía Đông giáp đường xóm có kích thước 8,09m; phía Tây giáp thửa đất số 66 có kích thước 0,12m + 3,74m; giao cho các đồng thừa kế của cụ K, cụ H1 (gồm ông Bùi Ngọc T3, anh Bùi Ngọc H, anh Bùi Văn T1, chị Bùi Thị B, bà Nguyễn Thị N, bà Bùi Thị T, bà Bùi Thị T2, ông Hồ Hữu C1, anh Hồ Điện Q1 và chị Hồ Thị Q) quản lý, sử dụng các tài sản trên đất, là: Nhà thờ mái ngói, cấp bốn, tường xây sò tạp lô, vì kèo gỗ, tường sơn, cửa sổ, diện tích 32,45m², trị giá 110.000.000 đồng; tường xây sò táp lô, không da trát, diện tích 24,4m², trị giá 3.000.000 đồng; mái che bằng tôn thường, diện tích 42,1m², trị giá 13.000.000 đồng; sân láng xi măng, diện tích 42,16m², trị giá 5.000.000 đồng; trụ cổng xây sò tạp lô, kích thước 40cm x 40cm x 1,9m, trị giá 2.200.000 đồng; cánh cổng bằng sắt cao 2m x 1,85m, trị giá 2.000.000 đồng. Tổng giá trị quyền sử dụng đất và các tài sản trên đất là 730.200.000 đồng. Giá trị mỗi người được hưởng là 73.020.000đ (bảy mươi ba triệu không trăm hai mươi nghìn đồng).
+ Giao cho ông Bùi Ngọc T3 quản lý, sử dụng diện tích 191,2m² (trong đó 30m² đât ở và 161,2m² đất vườn) của thửa đất số 51, tờ bản đồ số 14 tại thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An, thửa đất có tứ cận: Phía Bắc giáp đất giao cho anh Bùi Văn T1, có kích thước 25,89m + 6,12m + 1,1m; Phía Nam giáp phần đất nhà thờ có kích thước 22,43m; phía Đông giáp đường xóm có kích thước 9,37m; phía Tây giáp thửa đất số 50 có kích thước 1,20m và giáp thửa đất số 66 có kích thước 10,34m + 1,21m (giá trị thửa đất 774.200.000 đồng).
+ Giao cho anh Bùi Văn T1 quản lý, sử dụng diện tích 188,3m² (trong đó 30m² đất ở và 158,3m² đất trồng cây hàng năm) của thửa đất số 51, tờ bản đồ số 14 tại thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An, thửa đất có tứ cận: Phía Bắc giáp đất giao cho anh Bùi Văn H3, có kích thước 24,86m + 4,96m + 2,31m; Phía Nam giáp phần đất của anh T3 có kích thước 25,89m + 6,12m + 1,1m; phía Đông giáp đường xóm có kích thước 5,13m; phía Tây giáp thửa đất số 50 có kích thước 0,23m + 6,94m (giá trị thửa đất 764.050.000 đồng).
Anh T1 phải thanh toán bằng tiền đối với phần diện tích đất vượt quá kỷ phần thừa kế được chia với số tiền 100.000.000đ (một trăm triệu đồng) cho bà Bùi Thị T, bà Bùi Thị T2 và ông Hồ Hữu C1.
+ Giao cho anh Bùi Ngọc H quản lý, sử dụng diện tích 160,7m2 (trong đó 30m² đất ở và 130,7m² đất vườn) của thửa đất số 51, tờ bản đồ số 14 tại thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An, thửa đất có tứ cận: Phía Bắc giáp đất giao cho bà T, ông C1, bà T2, có kích thước 23,97m + 3,82m + 2,43m; Phía Nam giáp phần đất của anh T1 có kích thước 24,86m + 4,96m + 2,31m; phía Đông giáp đường xóm có kích thước 5,13m; phía Tây giáp thửa đất số 50 có kích thước 5,29m (giá trị thửa đất: 667.450.000 đồng).
Bà N không yêu cầu anh H phải trích trả tiền chênh lệch cho bà N, anh H không phải thanh toán giá trị phần đất vượt quá kỷ phần thừa kế được hưởng cho bà N.
Anh Bùi Ngọc H không phải thanh toán bằng tiền đối với phần giá trị chênh lệch giữa giá trị thửa đất so với kỉ phần anh H được hưởng cho bà Bùi Thị T, bà Bùi Thị T7 và ông Hồ Hữu C1.
+ Giao cho bà Bùi Thị T, bà Bùi Thị T2 và ông Hồ Hữu C1 quản lý, sử dụng diện tích đất 234m² (trong đó 67,5m² đất ở và 166,5m² đất trồng cây hàng năm) của thửa đất số 51, tờ bản đồ số 14 tại thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An, thửa đất có tứ cận: phía Bắc giáp thửa đất giao cho bà N có kích thước 24,65m+ 2,27m; Phía Nam giáp phần đất của anh H, kích thước 23,97m+ 3,82m + 2,34m; Phía Đông giáp đường bê tông kích thước 9,99m; phía Tây giáp thửa đất số 50 có kích thước 6,73m (giá trị thửa đất: 1.054.750.000 đồng).
+ Giao cho bà Nguyễn Thị N được quản lý, sử dụng diện tích đất 102m² (trong đó 22,5m² đất ở và 79,5m² đất trồng cây hàng năm) của thửa đất số 51, tờ bản đồ số 14 tại thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An, (trong đó 22,5m² đất ở và 79,5m² đất vườn) thửa đất có tứ cận như sau: phía Bắc giáp thửa đất số 45 có kích thước: 21,60m + 1,49m + 2,22m; Phía Nam giáp phần đất còn lại của bà Bùi Thị T, bà Bùi Thị T2 và ông Hồ Hữu C1, kích thước 24,65m; Phía Đông giáp đường bê tông kích thước 4m; phía Tây giáp thửa đất số 34 kích thước 2,54m, giáp thửa đất số 50 kích thước 1,46m (giá trị thửa đất 435.750.000₫).
Xét thấy, tại phiên tòa phúc thẩm các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án và thỏa thuận của họ là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội cần được chấp nhận.
- [3] Về án phí:
- [3.1] Án phí dân sự sơ thẩm:
- [3.1.1] Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho Bà Bùi Thị T, bà Bùi Thị T2.
- [3.1.2] Ông Hồ Hữu C1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm của kỷ phần anh Q1 và chị Q là 25.830.000đ (hai mươi lăm triệu tám trăm ba mươi nghìn đồng).
- [3.1.3] Bà Nguyễn Thị N phải chịu 21.430.000đ (hai mươi mốt triệu bốn trăm ba mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- [3.1.4. Ông Bùi Ngọc T3 phải chịu 34.968.000đ (ba mươi tư triệu chín trăm sáu mươi tám nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- [3.1.5. Anh Bùi Ngọc H phải chịu 30.698.000đ (ba mươi triệu sáu trăm chín mươi tám nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- [3.1.6. Anh Bùi Văn T1 phải chịu 30.562.000đ (ba mươi triệu năm trăm sáu mươi hai nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- [3.2] Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị N, anh Bùi Văn T1, chị Nguyễn Thị B1 mỗi người phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) mà mỗi người đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Quỳnh Lưu theo các biên lai số 0000472, 0000467, 0000471 ngày 18/10/2023.
- [3.1] Án phí dân sự sơ thẩm:
- [4] Về chi phí xem xét thẩm định và định giá: Nguyên đơn bà Bùi Thị T thỏa thuận chịu toàn bộ chi phí thẩm định và định giá. Bà T đã nộp đủ. Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ Điều 300 Bộ luật tố tụng dân sự, sửa bản án sơ thẩm, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.
2. Căn cứ các Điều 149, 609, 611, 612, 613, 614, 623, 649, 650, 651, 652 Bộ luật dân sự năm 2015; các Điều 166 và 167 Luật đất đai năm 2013; các Điều 33 và 66 Luật Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; các Điều 12, 26, 27 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
- 2.1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Bùi Thị T: Phân chia thửa đất số 331, tờ bản đồ số 02, diện tích 870m² (Bản đồ 299) tại thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An, tức thửa đất số 51, tờ bản đồ số 14, diện tích 1026,2m² (Bản đồ số), theo pháp luật.
- 2.2. Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự về thỏa thuận phân chia di sản thừa kế đối với thửa đất số 331, tờ bản đồ số 02, diện tích 870m² (Bản đồ 299) tại thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An, tức thửa đất số 51, tờ bản đồ số 14, diện tích 1026,2m² (Bản đồ số), cụ thể như sau:
- 2.2.1. Trích 150m² (trong đó 20m² đất ở và 130m² đất trồng cây hàng năm) của thửa đất số 51, tờ bản đồ số 14 tại thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An để sử dụng vào mục đích thờ cúng gia tiên, giao cho các đồng thừa kế của cụ K, cụ H1 (gồm ông Bùi Ngọc T3, anh Bùi Ngọc H, anh Bùi Văn T1, chị Bùi Thị B, bà Nguyễn Thị N, bà Bùi Thị T, bà Bùi Thị T2, ông Hồ Hữu C1, anh Hồ Điện Q1 và chị Hồ Thị Q) quản lý, sử dụng; thửa đất có tứ cận: phía Bắc giáp đất của anh Bùi Ngọc T3 có kích thước 22,43m; phía Nam giáp thửa đất số 66, có kích thước 9,68m + 0,12m + 4,05m + 0.12m + 0,34m + 0,60m + 3,85m + 2,62m + 2,13m; phía Đông giáp đường xóm có kích thước 8,09m; phía Tây giáp thửa đất số 66 có kích thước 0,12m + 3,74m; giao cho các đồng thừa kế của cụ K, cụ H1 (gồm ông Bùi Ngọc T3, anh Bùi Ngọc H, anh Bùi Văn T1, chị Bùi Thị B, bà Nguyễn Thị N, bà Bùi Thị T, bà Bùi Thị T2, ông Hồ Hữu C1, anh Hồ Điện Q1 và chị Hồ Thị Q) quản lý, sử dụng các tài sản trên đất, là: Nhà thờ mái ngói, cấp bốn, tường xây sò tạp lô, vì kèo gỗ, tường sơn, cửa sổ, diện tích 32,45m², trị giá 110.000.000 đồng; tường xây sò táp lô, không da trát, diện tích 24,4m², trị giá 3.000.000 đồng; mái che bằng tôn thường, diện tích 42,1m², trị giá 13.000.000 đồng; sân láng xi măng, diện tích 42,16m², trị giá 5.000.000 đồng; trụ cổng xây sò tạp lô, kích thước 40cm x 40cm x 1,9m, trị giá 2.200.000 đồng; cánh cổng bằng sắt cao 2m x 1,85m, trị giá 2.000.000 đồng. Tổng giá trị quyền sử dụng đất và các tài sản trên đất là 730.200.000 đồng. Giá trị mỗi người được hưởng là 73.020.000đ (bảy mươi ba triệu không trăm hai mươi nghìn đồng).
- 2.2.2. Giao cho anh Bùi Ngọc T3 quản lý, sử dụng diện tích 191,2m² (trong đó 30m² đất ở và 161,2m² đất vườn) của thửa đất số 51, tờ bản đồ số 14 tại thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An, thửa đất có tứ cận: Phía Bắc giáp đất giao cho anh Bùi Văn T1, có kích thước 25,89m + 6,12m + 1,1m; Phía Nam giáp phần đất nhà thờ có kích thước 22,43m; phía Đông giáp đường xóm có kích thước 9,37m; phía Tây giáp thửa đất số 50 có kích thước 1,20m và giáp thửa đất số 66 có kích thước 10,34m + 1,21m (giá trị thửa đất 774.200.000 đồng).
- 2.2.3. Giao cho anh Bùi Văn T1 quản lý, sử dụng diện tích 188,3m² (trong đó 30m² đất ở và 158,3m² đất trồng cây hàng năm) của thửa đất số 51, tờ bản đồ số 14 tại thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An, thửa đất có tứ cận: Phía Bắc giáp đất giao cho anh Bùi Văn H3, có kích thước 24,86m + 4,96m + 2,31m; Phía Nam giáp phần đất của anh T3 có kích thước 25,89m + 6,12m + 1,1m; phía Đông giáp đường xóm có kích thước 5,13m; phía Tây giáp thửa đất số 50 có kích thước 0,23m + 6,94m (giá trị thửa đất 764.050.000 đồng).
Anh T1 phải thanh toán bằng tiền đối với phần diện tích đất vượt quá kỷ phần thừa kế được chia với số tiền 100.000.000đ (một trăm triệu đồng) cho bà Bùi Thị T, bà Bùi Thị T2 và ông Hồ Hữu C1.
- 2.2.4. Giao cho anh Bùi Ngọc H quản lý, sử dụng diện tích 160,7m² (trong đó 30m² đất ở và 130,7m² đất vườn) của thửa đất số 51, tờ bản đồ số 14 tại thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An, thửa đất có tứ cận: Phía Bắc giáp đất giao cho bà T, ông C1, bà T2, có kích thước 23,97m + 3,82m + 2,43m; Phía Nam giáp phần đất của anh T1 có kích thước 24,86m + 4,96m + 2,31m; phía Đông giáp đường xóm có kích thước 5,13m; phía Tây giáp thửa đất số 50 có kích thước 5,29m (giá trị thửa đất: 667.450.000 đồng).
Bà N không yêu cầu anh H phải trích trả tiền chênh lệch cho bà N, anh H không phải thanh toán giá trị phần đất vượt quá kỷ phần thừa kế được hưởng cho bà N.
Anh Bùi Ngọc H không phải thanh toán bằng tiền đối với phần giá trị chênh lệch giữa giá trị thửa đất so với kỉ phần anh H được hưởng cho bà Bùi Thị T, bà Bùi Thị T7 và ông Hồ Hữu C1.
- 2.2.5. Giao cho bà Bùi Thị T, bà Bùi Thị T2 và ông Hồ Hữu C1 quản lý, sử dụng diện tích đất 234m² (trong đó 67,5m² đất ở và 166,5m² đất trồng cây hàng năm) của thửa đất số 51, tờ bản đồ số 14 tại thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An, thửa đất có tứ cận: phía Bắc giáp thửa đất giao cho bà N có kích thước 24,65m+ 2,27m; Phía Nam giáp phần đất của anh H, kích thước 23,97m+ 3,82m + 2,34m; Phía Đông giáp đường bê tông kích thước 9,99m; phía Tây giáp thửa đất số 50 có kích thước 6,73m (giá trị thửa đất: 1.054.750.000 đồng).
- 2.2.6. Giao cho bà N được quản lý, sử dụng diện tích đất 102m² (trong đó 22,5m² đất ở và 79,5m² đất trồng cây hàng năm) của thửa đất số 51, tờ bản đồ số 14 tại thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An, (trong đó 22,5m² đất ở và 79,5m² đất vườn) thửa đất có tứ cận như sau: phía Bắc giáp thửa đất số 45 có kích thước: 21,60m + 1,49m + 2,22m; Phía Nam giáp phần đất còn lại của bà Bùi Thị T, bà Bùi Thị T2 và ông Hồ Hữu C1, kích thước 24,65m; Phía Đông giáp đường bê tông kích thước 4m; phía Tây giáp thửa đất số 34 kích thước 2,54m, giáp thửa đất số 50 kích thước 1,46m (giá trị thửa đất 435.750.000₫).
- 3. Án phí:
- 3.1. Án phí dân sự sơ thẩm:
- 3.1.1. Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho Bà Bùi Thị T, bà Bùi Thị T2.
- 3.1.2. Ông Hồ Hữu C1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm của kỷ phần anh Q1 và chị Q là 25.830.000đ (hai mươi lăm triệu tám trăm ba mươi nghìn đồng).
- 3.1.3. Bà Nguyễn Thị N phải chịu 21.430.000đ (hai mươi mốt triệu bốn trăm ba mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- 3.1.4. Ông Bùi Ngọc T3 phải chịu 34.968.000đ (ba mươi tư triệu chín trăm sáu mươi tám nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- 3.1.5. Anh Bùi Ngọc H phải chịu 30.698.000đ (ba mươi triệu sáu trăm chín mươi tám nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- 3.1.6. Anh Bùi Văn T1 phải chịu 30.562.000đ (ba mươi triệu năm trăm sáu mươi hai nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- 3.2. Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị N, anh Bùi Văn T1, chị Nguyễn Thị B1 mỗi người phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) mà mỗi người đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Quỳnh Lưu theo các biên lai số 0000472, 0000467, 0000471 ngày 18/10/2023.
- 3.1. Án phí dân sự sơ thẩm:
- 4. Chi phí xem xét thẩm định và định giá: Nguyên đơn bà Bùi Thị T thỏa thuận chịu toàn bộ chi phí thẩm định và định giá. Bà T đã nộp đủ.
- 5. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.
Kể từ ngày Bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- - Các đương sự;
- - VKSND tỉnh Nghệ An;
- - Cục THADS tỉnh Nghệ An;
- - Chi cục THADS huyện Quỳnh Lưu;
- - TAND huyện Quỳnh Lưu;
- - Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Trần Thị Thúy Ngọc
- [2.1] Xét kháng cáo của bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Bản án số 65/2024/DS-PT ngày 10/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về yêu cầu chia di sản thừa kế
- Số bản án: 65/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Yêu cầu chia di sản thừa kế
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 10/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp chia di sản thừa kế T N
