Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 65/2024/HS-ST

Ngày 10/7/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Ánh Loan

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Lê Thu;
  2. Ông Trần Nghiệp Hồng

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thùy Dương – Thư ký Tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Hoàng Thiện- Kiểm sát viên.

Trong ngày 107 2024 tại Phòng xử A trụ sở Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: FORMTEXT 502024HS ngày 15tháng 5năm 2024theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: FORMTEXT 59FORMTEXT 2024QĐXXST-HS ngày 14tháng 6năm 2024 với bị cáo:

Nguyễn Văn C; sinh năm 1989Đồng Nai; thường trú tại 4 đường T, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: C đường L, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Tài xếtrình độ văn hóa: 9/12dân tộc: Kinhgiới tính: Namtôn giáo: Công giáoquốc tịch: F (chết) và bà Nguyễn Thị T án: Không có; tiền sự: Không có; nhân thân: Ngày 25/11/2008, TAND Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” (Bản án số 193/2008/HSST); bị tạm giữ, tạm giam từ ngày: 10/12/2023có mặt;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 22 giờ 00 phút ngày 10/12/2023, Tổ công tác 363 Công an Quận 11 khi tuần tra đến trước số A B, Phường A, Quận A phát hiện Nguyễn Văn C điều khiển xe mô tô hai bánh hiệu Honda AirBlade biển số 59V3- 236.96 có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Qua kiểm tra túi xách đeo trên người của C phát hiện: 01 dao xếp, 01 cây chích điện, 01 túi vải màu xanh bên trong có 01 ống kim tiêm chứa chất bột màu trắng là ma túy và 01 bóp da bên trong có 01 túi vải đỏ chứa 01 gói nylon chứa tinh thể màu trắng nên tiến hành đưa C cùng vật chứng về trụ sở Công an P, Quận A lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Tiến hành xét nghiệm nhanh chất ma túy đối với Nguyễn Văn C. Kết quả Cường dương tính với ma túy.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn C khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên, nguồn gốc số ma túy bị thu giữ, C khai mua của 01 nam thanh niên (không rõ lai lịch) tại khu vực Ba cây dừa, Quận H với giá 200.000 đồng. Mục đích C mua ma túy để sử dụng. Nguyễn Văn C thường sử dụng ma túy một mình, không sử dụng chung với ai khác.

Tại bản kết luận giám định số: 13729/KL-KTHS, ngày 18 tháng 12 năm 2023 của Phòng K - Công an thành phố H xác định:

Gói 1: Bột màu trắng (Ký hiệu mẫu m1) bên ngoài có dấu vân tay, chữ ký ghi tên Nguyễn Văn C và hình dấu Công an P, Quận A là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 0,2106g, loại Heroin.

Gói 2: Bột màu trắng trong 01 gói nylon (Ký hiệu mẫu m2) bên ngoài có dấu vân tay, chữ ký ghi tên Nguyễn Văn C và hình dấu Công an P, Quận A không tìm thấy ma túy.

Bản cáo trạng số 60/CT-VKSQ11 ngày 14 tháng 5 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 truy tố bị cáo Nguyễn Văn C tội danh “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, bị cáo có lời khai phù hợp với các lời khai tại Cơ quan điều tra và những chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 trình bày lời luận tội, đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Văn C từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù; đồng thời đề nghị hướng xử lý vật chứng như sau: Tịch thu và tiêu hủy: 02 gói niêm phong ghi vụ số 2697/23, 01 ống kim tiêm, 01 cái ví bằng vải màu xanh, 01 túi xách màu trắng, 01 biển số xe mang biển kiểm soát 59V3-236.96; trả lại cho bị cáo: 01 điện thoại di động hiệu Nokia và 01 điện thoại di động hiệu Iphone; thông báo trong thời hạn luật định đối với một xe mô tô hai bánh hiệu Air Bllade, quá thời hạn trên không ai đến nhận thì tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

1. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các lời khai tại cơ quan điều tra, những chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và các tang vật thu giữ được. Do đó, có đủ cơ sở để xác định:

Khoảng 22 giờ ngày 10/12/2023, tại trước số A B, Phường A, Quận A, Nguyễn Văn C cất giữ trái phép 0,2106 gam ma túy ở thể rắn, loại Heroine để sử dụng thì bị bắt quả tang.

Hành vi của bị cáo đã đủ dấu hiệu cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

2

Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, ý thức được việc gây nguy hiểm cho xã hội khi thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhưng vẫn thực hiện, nên có lỗi cố ý trực tiếp.

Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo đã vi phạm đến chính sách độc quyền kiểm soát, quản lý các chất gây nghiện của Nhà nước, đặc biệt là các chất gây nghiện thuộc danh mục các chất ma túy, tiền chất và các chất hóa học tham gia vào quá trình chế tạo các chất ma túy, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an ở địa phương, đồng thời làm phát sinh nhiều tội phạm khác. Vì vậy cần áp dụng hình phạt thật nghiêm khắc mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, hoàn cảnh gia đình khó khăn nên không cần bắt bị cáo phải chịu phạt tiền.

Về xử lý vật chứng:

  • 02 gói niêm phong ghi vụ số 2697/23 bên trong có chưa ma túy nên tịch thu và tiêu hủy;
  • 01 xe mô tô hai bánh hiệu AirBlade biển số 59V3- 236.96 mà Nguyễn Văn C dử dụng, C khai nhận xe mô tô biển số 59V3- 236.96 C mua lại của một người (không rõ lai lịch), không có giấy tờ và chưa sang tên xe. Tiến hành trưng cầu giám định số khung, số máy không thay đổi. Tiến hành trưng cầu giám định biển số 59V3- 236.96 là biển số giả. Qua xác minh biển số 59V3-236.96 là của xe H3 do bà Tăng Thị H đứng tên chủ sở hữu. Tiến hành làm việc với bà H được biết, vào năm 2019 bà H đã cho cháu là Tăng Văn H1, hiện H1 vẫn đang sử dụng xe trên. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an P đã có văn bản gửi Công ty TNHH H4 để rà soát xe có số khung: RLHJF6333NZ112578; số máy: JF94E0444260. Được biết xe mô tô trên được bán tại cửa hàng X, địa chỉ Nguyễn Hữu C1, Thị trấn C, huyện C, tỉnh An Giang; khách hàng mua xe là Phạm Quang H2 (địa chỉ: lô I H, Phường A, Quận H). Qua xác minh tại Công an P1, Quận H được biết tại địa chỉ Lô I H, Phường A, Quận H, TP . không có ai tên Phạm Quang H2. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an P đã đăng báo tìm chủ sở hữu xe trên. Do đó, cần thông báo trong thời hạn 12 tháng để chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp (nếu có) đến nhận, quá thời hạn trên kể từ ngày Chi cục Thi hành án dân sự Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành thông báo mà không có chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp liên hệ nhận thì tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước. Riêng biển số xe 59V3-236.96 cần tịch thu và tiêu hủy;
  • 01 điện thoại di động hiệu Nokia và 01 điện thoại di động hiệu Iphone; đây là tài sản cá nhân của bị cáo, không liên quan đến vụ án nên trả lại cho bị cáo;
  • 01 con dao xếp bằng kim loại dài 15cm, 01 dụng cụ chích điện. Đây là dụng cụ thu giữ của Nguyễn Văn C. C khai nhận con dao xếp và dụng cụ chích điện C sử dụng để phòng thân. Tại bản Kết luận giám định số 2212/KL-KTHS xác định: 01 dụng có cán, lưỡi sắt nhọn bằng kim loại dài khoảng 15 cm là vũ khí có tính năng, tác dụng tương tự vũ khí thô sơ; 01 dụng cụ chích điện thuộc danh mục công cụ hỗ trợ nên tịch thu và tiêu hủy. Ngày 03/5/2024, Ủy ban nhân dân Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh đã ban hành Quyết định số 60/QĐ-XPHC về việc xử phạt vi phạm hành chính đối với bị cáo về hành vi tàng trữ các vật dụng nêu trên đồng thời xử lý vật chứng tịch thu các tang vật nên Hội đồng xét xử không xem xét;
  • 01 ống kim tiêm, 01 cái ví bằng vải màu xanh, 01 túi xách màu trắng. Đây là dụng cụ C dùng để sử dụng ma túy, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu và tiêu hủy;
  • 01 USB bên trong có chứa dữ liệu hình ảnh, âm thanh khi tổ tuần tra 363 số 1 kiểm tra C tại trước số A B, Phường A, Quận A và 01 DVD ghi âm, ghi hình việc hỏi cung bị cáo Nguyễn Văn C đã lưu hồ sơ vụ án.

2. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận A, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 38, Điều 50; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017,

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 10/12/2023.

Căn cứ vào Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017,

  • Tịch thu và tiêu hủy: 02 gói niêm phong ghi vụ số 2697/23; 01 ống kim tiêm; 01 cái ví bằng vải màu xanh; 01 túi xách màu trắng; 01 biển số xe mang biển kiểm soát 59V3-236.96;
  • Trả lại cho bị cáo: 01 điện thoại di động hiệu Nokia và 01 điện thoại di động hiệu Iphone;
  • Thông báo trong thời hạn 12 tháng để chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp (nếu có) đến nhận đối với một xe mô tô hai bánh hiệu Air Blade; quá thời hạn trên kể từ ngày Chi cục Thi hành án dân sự Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành thông báo mà không có chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp liên hệ nhận thì tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước;

(Theo Lệnh nhập kho vật chứng số 23014/LNK-ĐCSMT ngày 18/12/2023 và Lệnh nhập kho vật chứng số 579/LNK-ĐCSMT ngày 03/5/2024);

Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo phải chịu là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015,

Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án.

4

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Nơi nhận:

  • - TAND - VKSND TPHCM;
  • - Sở Tư pháp TPHCM;
  • - PC 27 - CA TPHCM;
  • - VKSND Q.11;
  • - Công an Q.11;
  • - Chi cục THADS Q.11;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Trần Thị Ánh Loan

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 65/2024/HS-ST ngày 10/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 65/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger