|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ TỈNH LÂM ĐỒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 65/2024/DS-ST.
Ngày: 10/7/2024
V/v: “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Ông Trần Minh Huấn.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Ngô Thị Luân;
Bà Thạch Thị Lan Nhung.
- Thư ký phiên toà: Bà Đàm Thị Thu Duy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Vân Anh – Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 7 năm 2024, Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 197/2020/TLST-DS ngày 14 tháng 8 năm 2020 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 79/2024/QĐXXST-DS ngày 10 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 41/2024/QĐST-DS ngày 28 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Vợ chồng ông Đinh Trọng T, sinh năm 1980, bà Nguyễn Thị Thanh B, sinh năm 1977; địa chỉ: Thôn P, xã T, huyện L, Lâm Đồng.
Bị đơn: Bà Phạm Thị H, sinh năm 1968; địa chỉ: Tổ dân phố Y, thị trấn Đ, huyện L, Lâm Đồng.
(vợ chồng ông T, bà B và bà H đều có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện nguyên đơn nguyên đơn vợ chồng ông Đinh Trọng T, bà Nguyễn Thị Thanh B trình bày: Năm 2008 vợ chồng ông bà nhận chuyển nhượng của vợ chồng ông Nguyễn Việt C, bà Nguyễn Thị Cẩm T1 02 thửa đất là thửa 1468, tờ bản đồ số 21 có diện tích đất là 68.9m² và thửa 474, tờ bản đồ số 21 có diện tích đất là 87m² đất tọa lạc tại tổ dân phố V, thị trấn Đ, huyện L. Tại thời điểm nhận chuyển nhượng thì đất đã được cấp quyền sử dụng đất đứng tên vợ chồng ông C, bà T1, hai bên đã hoàn tất thủ tục chuyển nhượng quyền sử đất và đất đã sang tên chủ sử dụng cho vợ chồng ông bà. Vợ chồng ông bà đã thanh toán hết tiền cho ông C, bà T1 và được ông C, bà T1 mời cán bộ địa chính Ủy ban nhân dân thị trấn Đ đến chỉ đất nhưng do khu vực đất lúc này còn là ruộng, đường đất, vợ chồng ông bà chưa có điều kiện nên chưa xây dựng. Sau này khu vực đất này Nhà nước có thu
hồi bên trong để quy hoạch khu tái định cư, mở đường rộng hơn. Vợ chồng ông bà đến kiểm tra đất thì bên cạnh có đất ông N đã xây dựng nhà ở; giáp đất ông Nghĩa là 02 thửa đất của vợ chồng ông bà và đến đất của ông H1 là thửa 1469. Mặc dù, thời điểm nhận chuyển nhượng 02 thửa đất của vợ chồng ông bà có chiều ngang mặt đường 10m nhưng quá trình Nhà nước mở đường, các bên xây dựng thì đo đạc lại từ hướng giáp đất ông N về hướng giáp đất ông H1 thì 02 thửa đất của vợ chồng ông bà có chiều ngang mặt đường còn 09m. Tuy nhiên, do các bên đều có ranh giới thửa đất nên ông bà cũng không có ý kiến gì. Sau đó bà H xây dựng nhà trên đất của vợ chồng ông bà thì ông bà biết được nên có đề nghị Ủy ban nhân dân thị trấn Đ năm 2019 nhưng không thành. Do vậy, vợ chồng ông bà khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết, buộc bà H phải tháo dỡ, di dời công trình trên đất và trả lại cho vợ chồng ông diện tích đất theo kết quả đo đạc thực tế là 121,4m², trong đó có 69,5m² đất thuộc một phần thửa 474, 51,9m² đất thuộc một phần thửa 1468 tờ bản đồ 21 thị trấn Đ. Ngoài ra ông bà không trình bày gì thêm.
Bị đơn bà Phạm Thị H trình bày: Diện tích đất hiện nay bà xây nhà là do bà nhận chuyển nhượng của vợ chồng ông Lê Hồng T2, bà Nguyễn Thị H2 từ năm 2006. Diện tích đất nhận chuyển nhượng là 110m² đã được cấp quyền sử dụng đất thửa 1236 tờ bản đồ 21 thị trấn Đ. Trước đó, bà có chuyển nhượng cho ông T3 diện tích đất thuộc một phần thửa 2503 tờ bản đồ 25 thị trấn Đ nhưng chưa hoàn tất thủ tục chuyển nhượng nên bà có giao cho ông T3 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 1236 cho ông T3 để làm tin. Bản thân ông T3 là anh rể của ông N (cán bộ Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện L). Ông N có xây nhà trên đất thửa 1236 và sau đó ông T3 và ông N tự thỏa thuận và làm thủ tục sang tên quyền sử dụng đất thửa 1236 cho ông N sử dụng đến nay.
Bà xác định bà làm nhà trên đất mà bà đã nhận chuyển nhượng của vợ chồng ông T2, bà H2 là thửa 1236 tờ bản đồ 21 thị trấn Đ. Bản thân bà nghĩ đất thửa 1236 của bà là giáp đất của bà B mà hiện tại ông N đang xây nhà.
Do vậy, theo yêu cầu khởi kiện của vợ chồng ông T, bà B về việc buộc bà phải tháo dỡ, di dời công trình trên đất và trả lại cho vợ chồng ông T, bà B diện tích đất theo kết quả đo đạc thực tế là 121,4m², trong đó có 69,5m² đất thuộc một phần thửa 474, 51,9m² đất thuộc một phần thửa 1468 tờ bản đồ 21 thị trấn Đ thì bà không đồng ý.
Vụ án đã được Tòa án tiến hành hòa giải nhưng không thành.
Tại phiên tòa: Nguyên đơn vẫn giữ nguyên ý kiến và yêu cầu như trên. Còn bị đơn bà H tự nguyện tháo dỡ phần nhà xây dựng trên đất, mái vòm và hàng rào để trả lại cho vợ chồng ông T, bà B diện tích đất đã lấn chiếm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký tòa án, của Hội đồng xét xử và của những người tham gia tố tụng. Đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đinh Trọng T, bà Nguyễn Thị Thanh B về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” với bà Phạm Thị H.
Buộc bà Phạm Thị H phải tháo dỡ công trình xây dựng là tường xây, mái che, hàng rào sắt, trụ cổng để trả lại diện tích đất 69,5m² thuộc một phần thửa 474 và
diện tích đất 51,9m² thuộc một phần thuộc thửa 1468 tờ bản đồ 21 thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng cho ông Đinh Trọng T, bà Nguyễn Thị Thanh B.
Về chi phí tố tụng: Tại phiên tòa nguyên đơn tự nguyện nhận chịu toàn bộ chi phí đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ và thẩm định giá tài sản mà nguyên đơn đã nộp tạm ứng. Xét thấy đây là sự tự nguyện của đương sự và phù hợp với quy định của pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về án phí: Bà Phạm Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Qua các chứng cứ, tài liệu được thể hiện trong hồ sơ và kết quả thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận của đương sự tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Xuất phát từ việc ông Đinh Trọng T, bà Nguyễn Thị Thanh B cho rằng bà Phạm Thị H đã tự ý ra xây nhà trên 02 thửa đất của ông bà đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên ông bà khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bà H phải trả lại đất. Còn bà H cho rằng bà xây nhà là xây trên đất của bà nhận chuyển nhượng của vợ chồng ông Lê Hồng T2 nên bà không lấn chiếm đất của vợ chồng ông T, bà B vì vậy phát sinh tranh chấp. Do đó, căn cứ vào khoản 9 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định quan hệ tranh chấp của vụ án là “Tranh chấp quyền sử dụng đất”. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng theo quy định điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a, c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung tranh chấp:
[2.1] Theo vợ chồng ông Đinh Trọng T, bà Nguyễn Thị Thanh B thì diện tích đất là 68.9m² thuộc thửa 1468 tờ bản đồ số 21 và tích đất là 87m² thuộc thửa 474 tờ bản đồ số 21 thị trấn Đ, huyện L có nguồn gốc là vợ chồng ông bà nhận chuyển nhượng của vợ chồng ông Nguyễn Việt C, bà Nguyễn Thị Cẩm T1 vào năm 2008 nhưng đến năm 2012 hai bên mới tiến hành lập hợp đồng chuyển nhượng theo quy định của pháp luật và vợ chồng ông bà đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do chưa có điều kiện xây dựng nên ông bà vẫn để đất trống. Đến khoảng năm 2015, bà Phạm Thị H đã tự ý ra xây nhà trên 02 thửa đất của ông bà nên ông bà khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bà H phải trả lại đất theo kết quả đo đạc thực tế là 69,5m² thuộc một phần thửa 474 và diện tích đất 51,9m² thuộc một phần thuộc thửa 1468 tờ bản đồ 21 thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.
[2.2] Còn bà H cho rằng bà xây nhà là xây trên đất thửa đất 1236 bà nhận chuyển nhượng của vợ chồng ông Lê Hồng T2 vào năm 2006 nên bà không lấn chiếm đất của vợ chồng ông T, bà B và không đồng ý trả lại đất theo yêu cầu khởi kiện của ông T, bà B.
Qua yêu cầu của các đương sự, đối chiếu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ nguồn gốc đất thửa 474, 1468 và 1236 thể hiện:
[2.3] Năm 1999 hộ ông (bà) Trần Đức M trú tại tổ dân phố V thị trấn Đ, huyện L đã được Ủy ban nhân dân huyện L cấp 05 thửa đất, trong đó có thửa 474 diện tích là 148m² và thửa 473 là 356m². Đến năm 2005 hộ ông M làm thủ tục tách thửa 474 thành thửa mới là 1236 có diện tích là 110m², diện tích còn lại của thửa 474 là 38m². Ngày 02/8/2005 ông Trần Đức M, bà Trần Thị N1 đã lập hợp đồng chuyển nhượng cho vợ chồng ông Lê Hồng T2, bà Nguyễn Thị H2 diện tích đất 110m² thuộc thửa 1236. Ngày 16/11/2005 ông Lê Hồng T2, bà Nguyễn Thị H2 được Ủy ban nhân dân huyện L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đến ngày 25/11/2017 thì vợ chồng ông Lê Hồng T2, bà Nguyễn Thị H2 lập hợp đồng chuyển nhượng cho ông Lê Trung N2, ông N2 đã được Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện L cập nhận đứng tên quyền sử dụng tại trang 4 trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và làm nhà ở trên đất cho đến nay.
Còn thửa 473, ngày 14/6/2005 hộ ông M làm thủ tục tách thửa 473 thành thửa mới là 1237 có diện tích là 327m², diện tích còn lại của thửa 473 là 29m². Ngày 14/6/2005 ông Trần Đức M, bà Trần Thị N1 đã lập hợp đồng chuyển nhượng cho ông Phạm Xuân T4, bà Võ Thị Trâm A diện tích đất 327m² thuộc thửa 1237. Ngày 16/11/2005 ông Phạm Xuân T4, bà Võ Thị Trâm A được Ủy ban nhân dân huyện L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ngày 03/5/2007 ông T4 xin làm thủ tục tách thửa 1237 thành 02 thửa là thửa 1468 có diện tích là 68,9m² và thửa 1469 có diện tích là 258,1m². Đến ngày 25/7/2012 ông Phạm Xuân T4, bà Võ Thị Trâm A lập hợp đồng chuyển nhượng cho ông Nguyễn Việt C, bà Nguyễn Thị Cẩm T1 diện tích đất 258,1m² thuộc thửa 1469. Sau đó ông C, bà T1 tiếp tục chuyển nhượng cho ông Phạm Xuân H3 thửa 1469. Còn thửa 1468 ngày 31/5/2007 ông T4, bà A chuyển nhượng cho ông C, bà T1. Ngày 13/8/2012 ông C, bà T1 chuyển nhượng cho ông T, bà B.
Đối với thửa 474 diện tích còn lại sau khi tách thửa là 38m² và thửa 473 sau khi tách thửa là còn lại là 29m², ngày 20/6/2005 ông Trần Đức M làm thủ tục xin nhập thửa vẫn giữ nguyên thửa 474 có diện tích là 67m². Ngày 23/8/2005 ông Trần Đức M, bà Trần Thị N1 đã làm hợp đồng chuyển nhượng cho ông Nguyễn Việt C, bà Nguyễn Thị Cẩm T1, ông C, bà T1 chuyển nhượng cho ông T bà B vào năm 2012, ông T bà B được cấp giấy chứng nhận vào năm 2012 với diện tích số hóa là 87m² thuộc thửa 474 tờ bản đồ 21 thị trấn Đ.
Như vậy, về vị trí hiện trạng các thửa đất thì thửa 1236 (được tách từ thửa 474 cũ) tiếp giáp với thửa đất 474 cấp quyền sử dụng đất cho ông T, bà B; thửa 474 hiện hữu tiếp giáp với thửa 1468 được cấp quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông T, bà B và tiếp giáp với thửa 1468 là thửa 1469 (trong đó thửa 1468 và 1469 được tách từ thửa 473 thành thửa 1237 và tiếp tục tách thửa 1237 thành thửa 1468 và 1469).
[2.4] Theo bị đơn bà H cho rằng, diện tích đất hiện nay bà xây nhà có nguồn gốc do bà nhận chuyển nhượng của vợ chồng ông Lê Hồng T2, bà Nguyễn Thị H2 từ năm 2006 với diện tích 110m² đã được cấp quyền sử dụng đất là thửa 1236 tờ bản đồ 21 thị trấn Đ. Bản thân bà nghĩ đất thửa 1236 của bà là giáp đất của bà B mà hiện tại ông N2 đang xây nhà. Tuy nhiên, qua xem xét về hồ sơ cấp quyền sử dụng đất, hồ sơ tách thửa đất từ các thửa 474 và 473 có nguồn gốc từ ông M thì vị
trí thửa đất 1236 tiếp giáp thửa 474 và tiếp giáp tiếp theo là thửa 1468 và thửa 1469. Trong đó hiện nay thửa 1469 do ông Nguyễn Xuân H4 đang quản lý, sử dụng, có nguồn gốc nhận chuyển nhượng của ông C, bà T1. Như vậy, nếu xét theo ý kiến bà H trình bày thì diện tích đất thửa 1236 sẽ nằm giữa thửa đất 1469 với các thửa 474 và 1468 là mâu thuẫn với hồ sơ tách thửa, cấp quyền sử dụng đất về vị trí các thửa đất như phân tích ở trên.
[2.5] Ngoài ra, bà H còn cho rằng, trước đó bà có chuyển nhượng cho ông T4 diện tích đất thuộc một phần thửa 2503 tờ bản đồ 25 thị trấn Đ nhưng chưa hoàn tất thủ tục chuyển nhượng nên bà có giao cho ông T4 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 1236 cho ông T4 để làm tin. Bản thân ông T4 là anh rể của ông N2 (cán bộ Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện L). Ông N2 có xây nhà trên đất thửa 1236 và sau đó ông T4 và ông N2 tự thỏa thuận và làm thủ tục sang tên quyền sử dụng đất thửa 1236 cho ông N2 sử dụng đến nay. Nội dung này hoàn toàn mâu thuẫn với trình bày của bà H như trên vì bà H đã cho rằng bản thân bà đang xây nhà trên đất thửa 1236; còn đất của ông T, bà B tại thửa 474 và 1468 là tại vị trí đất ông N2 xây nhà.
[2.6] Mặt khác, theo bản tự khai bà H có xác định, năm 2008 bà H có cùng ông T4 nhận chuyển nhượng chung diện tích đất các thửa 476, 478 và 2503, tổng diện tích là 1.300m². Năm 2009, Ủy ban nhân dân huyện L đã đưa các thửa đất trên vào khu tái định cư thị trấn Đ. Lúc này Nhà nước có đền bù thu hồi một phần diện tích đất này làm làm khu tái định cư thì ông T4 đã nhận tiền đền bù; phần diện tích đất còn lại do giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bà thế chấp Ngân hàng nên không làm thủ tục tách thửa các phần đất này được với ông T4. Bà H cho rằng năm 2015 bà làm nhà trên đất khu vực này thì năm 2019 vợ chồng ông T, bà B có tranh chấp và đòi lại đất nhưng bà H không đồng ý vì bà cũng “chưa biết chính xác là có xây nhà trên đất của ông T, bà B hay không, khi nào có kết kết quả đo đạc đúng thì bà mới đồng ý trả” (Bút lục 69). Như vậy, khi bà H xây nhà trên đất khu vực hiện đang tranh chấp thì bà cũng không biết chính xác diện tích đất này của ai, bà cũng không có sự kiểm tra để xác định chính xác vị trí đất thuộc quyền sử dụng của bà để bà được phép xây dựng nhà trên đất.
[2.7] Qua xác minh của Tòa án thì được cung cấp thông tin về đất ông N2 hiện đang quản lý, sử dụng xây nhà ở giáp đất tranh chấp cụ thể như sau: Đất ông N2 nhận chuyển nhượng thửa đất 475 tờ bản đồ 21 thị trấn Đ, diện tích 90m², đất có chiều ngang mặt đường 10m của bà Lê Thị T5. Thửa đất 475 có nguồn gốc do bà T5 nhận chuyển nhượng từ ông M. Ngoài ra, ông N2 có nhận chuyển nhượng diện tích đất 110m² thuộc thửa 1236 tờ bản đồ 21 thị trấn Đ, đất có chiều ngang mặt đường 10m của vợ chồng ông T2, bà H2. Ông N2 đã hoàn tất thủ tục chuyển nhượng và được cấp quyền sử dụng đất các thửa 1236 và 475 tờ bản đồ 21 thị trấn Đ. Mặt khác, ông N2 còn nhận chuyển nhượng của bà H một phần diện tích đất thửa 2503 tờ bản đồ 25 thị trấn Đ, đất có chiều ngang mặt đường là 16m đến nay ông N2 chưa làm thủ tục tách thửa sang tên chuyển nhượng quyền sử dụng đất với bà H đối với một phần thửa đất 2503; phần diện tích đất thuộc một phần thửa 2503 còn lại hiện bà H đang quản lý, sử dụng làm nhà ở, trong đó theo quy hoạch hiện tại khu đất này thì thửa đất 2503 bị chia thành hai phần và được ngăn cách nhau
bởi con đường đi, trong đó bà H sử dụng một phần bên kia đường và ông N2 sử dụng một phần đối diện qua con đường đi. Theo nội dung xác minh này thì vị trí đất ông N2 sử dụng gồm một phần thửa 2053 tờ bản đồ 25 thị trấn Đinh Văn tiếp giáp đến là thửa 475 và tiếp theo là thửa 1236 tờ bản đồ 21 thị trấn Đ. Thửa đất 1236 của ông N2 sẽ tiếp giáp thửa 474 tờ bản đồ 21 thị trấn Đinh Văn vì được tách ra từ thửa 474 cũ được cấp quyền sử dụng đất cho ông M trước đây.
Vị trí các thửa đất theo kết quả xác minh phù hợp với hiện trạng sử dụng đất hiện tại theo kết quả đo đạc và phù hợp với hồ sơ tách thửa cấp quyền sử dụng đất như phân tích nêu trên.
Đối với thửa đất 1236 tờ bản đồ 21 thị trấn Đ theo bà H cho rằng là của bà nhưng thực tế diện tích đất này bà H đã ký “Giấy bán đất” ngày 20/4/2008 với ông T2, bà H2 và sau đó bà H viết “giấy bán đất” cho ông Nguyễn Thành T6 ngày 26/3/2006. Ông Trung chuyển nhượng đất này cho ông N2 và ông N2 hoàn tất thủ tục nhận chuyển nhượng đất này từ ông T2, bà H2. Đến nay, giữa các bên không có tranh chấp liên quan đến thửa đất 1236 tờ bản đồ 21 thị trấn Đ.
Đối với các thửa đất được cấp quyền sử dụng đất cho bà H gồm thứa đất 484, 483, 481, 479, 478, 476, 489, 482, 480 và một phần thừa 485 tờ bản đồ số 21 thị trấn Đ, huyện L. Theo quyết định số 2131/QĐ UBND ngày 09/9/2009 của UBND huyện L thì toàn bộ các thửa đất trên đã bị thu hồi quy hoạch vào khu tái định cư thị trấn Đ. Căn nhà và công trình phụ bà H đang sử dụng là xây dựng trên thửa đất 476, thừa 474 và thừa 1468, trong đó thửa đất 476 đã bị UBND huyện L ra quyết định thu hồi, còn thửa 474 và thứa 1468 được cấp quyền sử dụng cho ông T, bà B.
[2.8] Từ những phân tích và nhận định nêu trên có cơ sở xác định, diện tích đất thửa 1236 các bên đã chuyển nhượng cho ông N2. Bà H không còn quyền sử dụng đất tại khu vực này nhưng bà cho rằng bà đang xây nhà trên đất của bà tại thửa 1236 là không có cơ sở, trong khi đó theo kết quả đo đạc hiện trạng có lồng ghép bản đồ địa chính thì phần đất bà H đang sử dụng xây nhà có tranh chấp thuộc thửa 474 và 1468 tờ bản đồ 21 thị trấn Đ đã được cấp quyền sử dụng đất cho ông T, bà B. Đồng thời, tại phiên tòa, bà H xác định đồng ý trả lại cho vợ chồng ông T, bà B phần diện tích bà đang sử dụng tại thửa 474 và 1468 tờ bản đồ 21 thị trấn Đ. Do vậy, vợ chồng ông T, bà B yêu cầu bà H phải trả lại diện tích đất đã lần chiếm là có cơ sở chấp nhận.
[2.9] Qua xem xét thẩm định tại chỗ hiện trạng đất tranh chấp thì xác định hiện nay bà H có xây dựng cổng, sân bê tông, hàng rào và một phần nhà cấp 4 có diện tích 3m² thuộc thửa đất 474 và 1468 của ông T, bà B. Bản thân bà H không có sự kiểm tra chính xác diện tích đất trước khi xây dựng, mặc dù không biết chính xác đất này có thuộc quyền sử dụng của bà hay không nhưng tự ý xây dựng trên đất thuộc quyền sử dụng của ông T, bà B là không phù hợp. Đồng thời, tại phiên tòa bà H đồng ý tháo dỡ, di dời các công tình xây dựng trên đất để trả lại ch vợ chồng ông T, bà B1 hiện trạng diện tích đất thửa 474, 1468 tờ bản đồ 21 thị trấn Đ. Do vậy, cần buộc bà H phải tháo dỡ toàn bộ công trình xây dựng trên đất gồm mái hiên trước nhà có trụ sắt phi 60, diện tích mái lợp tôn 4,6m x 5m; một phần phòng khách xây tường có diện tích là 03m² được xây dựng trên một phần thửa đất 474; hai trụ cổng bê tông 50cm x 50cm x cao 2,1m, 02 trụ nhỏ 40cm x 40cm x cao
1,7m; hàng rào bằng sắt dài 05m và cổng bằng sắt dài 3,6m được xây dựng trước thửa 474 và 1468 để trả lại diện tích đất thửa 474 và 1468 tờ bản đồ 21 thị trấn Đ cho ông T, bà B.
[2.10] Đối với phần diện tích đất bà H xây nhà thuộc thửa 476, phần phía sau thửa 474 và 1468 thì qua xem xét diện tích đất này đã được Nhà nước thu hồi toàn bộ trong quy hoạch khu tái định cư thị trấn Đ nhưng bà H tự ý xây dựng. Phần đất này không liên quan đến tranh chấp trong vụ án này nên Tòa án không xem xét giải quyết. Trường hợp bà H sử dụng trái phép đất thuộc quyền quản lý của Nhà nước thì cơ quan quản lý Nhà nước về đất đai có thẩm quyền xem xét xử lý theo quy định của pháp luật, đồng thời, do đất không thuộc quyền sử dụng của bà H và cũng chưa xác định quyền sử dụng của cá nhân hay tổ chức nào, các bên không có tranh chấp về lối đi đối với bất động sản liền kề bị vây bọc bởi các bất động sản khác nên Tòa án không xem xét giải quyết trong vụ án này mà trường hợp sau này nếu có tranh chấp và có yêu cầu khởi kiện thì Tòa án sẽ xem xét giải quyết bằng vụ án khác.
[3] Về chi phí tố tụng khác: Xét thấy việc xem xét thẩm định tại chỗ, đo đạc, thẩm định giá tài sản tranh chấp là cần thiết cho việc giải quyết vụ án. Tổng chi phí cho việc đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ, thẩm định giá tài sản là 9.875.000đ, số tiền này nguyên đơn đã nộp tạm ứng và đã được quyết toán xong. Tại phiên tòa nguyên đơn tự nguyện nhận chịu. Hội đồng xét xử, xét thấy việc nguyên đơn tự nguyện nhân chịu là sự tự nguyện và phù hợp với quy định của pháp luật nên ghi nhận.
[4] Về án phí: Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên buộc bị đơn phải chịu số tiền án phí dân sự sơ thẩm là 300.000đ.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a, c khoản 1 Điều 39; các Điều 147; 157; 165; 235 và Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ Điều 166 và Điều 203 Luật Đất đai năm 2013;
- Căn cứ Điều 158, 161 và Điều 166 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đinh Trọng T, bà Nguyễn Thị Thanh B về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” với bị đơn bà Phạm Thị H.
Buộc bà Phạm Thị H phải tháo dỡ, di dời mái hiên trước nhà có trụ sắt phi 60, diện tích mái lợp tôn 4,6m x 5m; một phần phòng khách xây tường có diện tích là 03m² được xây dựng trên thửa đất 474; hai trụ cổng bê tông 50cm x 50cm x cao 2,1m, 02 trụ nhỏ 40cm x 40cm x cao 1,7m; hàng rào bằng sắt dài 05m và cổng bằng sắt dài 3,6m được xây dựng trước thửa 474 và 1468 để trả cho vợ chồng ông Đinh Trọng T, bà Nguyễn Thị Thanh B diện tích đất 121,4m², trong đó có 69,5m²
đất thuộc thửa 474, 51,9m² đất thuộc thửa 1468 tờ bản đồ 21 thị trấn Đ, huyện L (có họa đồ kèm theo).
2. Về án phí: Buộc bà Phạm Thị H phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả cho ông Đinh Trọng T, bà Nguyễn Thị Thanh B số tiền 10.000.000 đồng tạm ứng án phí đã tạm nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0007630 ngày 14/8/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng.
3. Về chi phí tố tụng: Buộc vợ chồng ông Đinh Trọng T, bà Nguyễn Thị Thanh B phải chịu số tiền chi phí đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ và thẩm định giá tài sản là 9.875.000đ. Số tiền này đã được vợ chồng ông Đinh Trọng T, bà Nguyễn Thị Thanh B nộp tạm ứng và đã được quyết toán xong.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (10/7/2024) nguyên đơn, bị đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Minh Huấn |
Bản án số 65/2024/DS-ST ngày 10/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 65/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bình - Hân - Đất đai
