|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 65/2024/HS-ST Ngày 10-6-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Văn Chum.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Ngọc Xuyến;
Ông Nguyễn Thanh Tùng.
- Thư ký phiên tòa:
Ông Phạm Hồng Thái - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Đình Tuyên - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 6 năm 2024, Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 60/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 76/2024/QĐXXST - HS ngày 27 tháng 5 năm 2023 đối với bị cáo:
Đào Minh M (sinh năm 1985, tại tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: làng M, xã P, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đào Minh T và bà Trần Thị Đ; bị cáo có vợ là Lê Thị T1 và có 01 con (sinh năm 2011); tiền án, tiền sự: không; ngày 19/11/2023, bị bắt theo Quyết định truy nã số 11 ngày 16 tháng 4 năm 2012 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B, bị cáo bị tạm giam cho đến nay, có mặt.
- Bị hại:
Công ty TNHH L; địa chỉ: đường N, khu phố C, phường T, thị xã B, tỉnh Bình Dương. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Sỹ Hoàng T2, sinh năm 1992, có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Ông Chề A P, sinh năm 1985; nơi cư trú: ấp S, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Nai, có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Nguyễn Văn D, sinh năm 1990; nơi cư trú: khu phố E, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Phước, có đơn xin xét xử vắng mặt.
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Công ty TNHH L, có 100% vốn của Hàn Quốc. Ngành nghề kinh doanh: Chuyên sản xuất các loại lốp ô tô, nhà xưởng, địa chỉ: Khu công nghiệp M, phường T, thị xã B, tỉnh Bình Dương.
Trong tháng 12 năm 2009, Đào Minh M là công nhân của Công ty, Chề A, Nguyễn Văn D là nhân viên kho nguyên liệu đã bàn bạc, cấu kết với 02 người (không xác định họ tên, địa chỉ) là lái xe và phụ xe cho Công ty K nhiều lần lén lút trộm cắp mủ cao su nguyên liệu của Công ty TNHH L đem bán lấy tiền chia nhau tiêu xài, cụ thể như sau:
Lần thứ nhất: Khoảng 11 giờ 30 phút, ngày không xác định vào tháng 12/2009, lái xe và phụ xe của Công ty K điều khiển xe container vào kho nguyên liệu để giao nhận hàng, P, M lấy 04 cục mủ loại SVR-10 khối lượng 140 kg giấu vào cabin và thùng xe để lái xe và phụ xe chở ra khỏi Công ty. Sau đó, P lấy mủ mang bán cho Đoàn Thị S được 4.000.000 đồng (bốn triệu đồng). Pẩu lấy 2.000.000 đồng (hai triệu đồng), M được chia 1.000.000 đồng (một triệu đồng), lái xe và phụ xe được chia 1.000.000 đồng (một triệu đồng).
Lần thứ hai: Khoảng 11 giờ 30 phút, ngày không xác định vào tháng 12/2009, P cùng M lấy 04 cục mủ loại SVR-10 khối lượng 140 kg chất lên xe tải để lái xe và phụ xe Công ty K chở ra khỏi cổng. Sau đó, P đem bán cho Đoàn Thị S được 4.000.000 đồng (bốn triệu đồng), P lấy 2.000.000 đồng (hai triệu đồng), M được chia 1.000.000 đồng (một triệu đồng), lái xe và phụ xe được chia 1.000.000 đồng (một triệu đồng).
Lần thứ ba: Khoảng 11 giờ 30 phút, ngày không xác định vào tháng 12/2009, P cùng M lấy 04 cục mủ loại SVR-10 khối lượng 140 kg chất lên xe tải để lái xe và phụ xe Công ty K chở ra khỏi cổng. Sau đó, P đem bán cho Đoàn Thị S được 4.000.000 đồng (bốn triệu đồng), P lấy 2.000.000 đồng (hai triệu đồng), M được chia 1.000.000 đồng (một triệu đồng), lái xe và phụ xe được chia 1.000.000 đồng (một triệu đồng).
Lần thứ tư: Khoảng 11 giờ 30 phút, ngày không xác định vào tháng 12/2009, P cùng M lấy 07 cục mủ loại SVR-10 khối lượng 245 kg chất lên xe tải để lái xe và phụ xe Công ty K chở ra khỏi cổng. Sau đó, P đem bán cho Đoàn Thị S được 7.000.000 đồng (bảy triệu đồng), P lấy 4.000.000 đồng (bốn triệu đồng), M được chia 2.000.000 đồng (hai triệu đồng), lái xe và phụ xe được chia 1.000.000 đồng (một triệu đồng).
Lần thứ năm: Khoảng 11 giờ 30 phút, ngày không xác định vào tháng 12/2009, P cùng M lấy 07 cục mủ loại SVR-10 khối lượng 245 kg chất lên xe tải để lái xe và phụ xe Công ty K chở ra khỏi cổng. Sau đó, P đem bán cho Đoàn Thị S được 7.000.000 đồng (bảy triệu đồng), P lấy 4.000.000 đồng (bốn triệu đồng), M được chia 2.000.000 đồng (hai triệu đồng), lái xe và phụ xe được chia 1.000.000 đồng (một triệu đồng).
3
Lần thứ sáu: Khoảng 11 giờ 30 phút, ngày không xác định vào tháng 12/2009, P cùng M và Nguyễn Văn D lấy 10 cục mủ loại SVR-10 khối lượng 350 kg chất lên xe tải để lái xe và phụ xe Công ty K chở ra khỏi cổng. Sau đó, P và M đem bán cho Đoàn Thị S được 10.000.000 đồng (mười triệu đồng), P được 2.000.000 đồng (hai triệu đồng), M được 2.000.000 đồng (hai triệu đồng), Nguyễn Văn D được 2.000.000 đồng (hai triệu đồng), lái xe và phụ xe được 4.000.000 đồng (bốn triệu đồng).
Lần thứ bảy: Khoảng 11 giờ 30 phút, ngày không xác định vào tháng 12/2009, lái xe và phụ xe của Công ty K điều khiển xe container vào kho nguyên liệu để giao nhận hàng, Nguyễn Văn D và Đào Minh M lấy 12 cục mủ loại SVR-20 khối lượng 420 kg giấu vào cabin và thùng xe để lái xe và phụ xe chở ra khỏi Công ty. Sau đó, lái xe và phụ xe đem bán cho người khác (không rõ) được 12.000.000 đồng (mười hai triệu đồng), lái xe và phụ xe được 6.000.000 đồng (sáu triệu đồng), D được 3.000.000 đồng (ba triệu đồng), M được 3.000.000 đồng (ba triệu đồng).
Đào Minh M, Chề A P, Nguyễn Văn D đã trộm cắp của Công ty TNHH L 36 cục mủ loại SVR-10 tổng khối lượng 1260 kg và 12 cục mủ loại SVR-20 tổng khối lượng 420 kg.
Bản Kết luận định giá tài sản ngày 02/11/2011 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Bình Dương: 1260 kg mủ nguyên liệu loại SVR-10 trị giá 40.036.500 đồng; 420 kg mủ nguyên liệu loại SVR-20 trị giá 13.345.500 đồng. Tổng trị giá 53.382.000 đồng (năm mươi ba triệu ba trăm tám mươi hai nghìn đồng).
Trách nhiệm dân sự: Công ty TNHH L đã nhận toàn bộ tiền bồi thường nên không yêu cầu thêm. Chề A P, Nguyễn Văn D đã bồi thường cho Công ty TNHH L toàn bộ giá trị tài sản chiếm đoạt; Pẩu, D không yêu cầu Đào Minh M trả lại tiền mà P, D đã bồi thường cho Công ty TNHH L.
Đối với Chề A P tham gia 14 lần trộm cắp mủ cao su nguyên liệu trị giá 554.517.075 đồng, Nguyễn Văn D tham gia 09 lần trộm cắp mủ cao su nguyên liệu trị giá 498.910.825 đồng của Công ty TNHH L và Đoàn Thị S có hành vi Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có. Ngày 27/11/2012, Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xử phạt Chề A P 12 năm tù; Nguyễn Văn D 06 năm tù về tội Trộm cắp tài sản; Đoàn Thị S 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm tính từ ngày tuyên án về tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.
Cáo trạng số 87/CT-VKSBD-P1 ngày 17 tháng 4 năm 2024 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Đào Minh M về tội “Trộm cắp tài sản”, quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
4
Tại phiên tòa, bị cáo Đào Minh M khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng mà đại diện Viện Kiểm sát đã nêu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa trình bày lời luận tội trong đó có nội dung: giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Đào Minh M theo Cáo trạng số 87/CT-VKSBD-P1 ngày 17 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, có thái độ ăn năn hối cải; về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo phạm tội 02 lần trở lên. Ngoài ra, sau khi phạm tội bị cáo bỏ trốn gây khó khăn cho Cơ quan điều tra và Cơ quan điều tra đã ra quyết định truy nã đối với bị cáo.Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đào Minh M mức hình phạt từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù.
Bị cáo không tranh luận.
Bị cáo nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: các hành vi của Điều tra viên, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh B, Kiểm sát viên, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo Đào Minh M thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương đã truy tố đối với bị cáo. Căn cứ vào lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, cùng với những tài liệu, chứng cứ khác tại hồ sơ, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Trong thời gian khoảng tháng 12 năm 2009, Đào Minh M đã nhiều lần lén lút chiếm đoạt 36 cục mủ loại SVR-10 tổng khối lượng 1260 kg trị giá 40.036.500 đồng và 12 cục mủ loại SVR-20 tổng khối lượng 420 kg trị giá 13.345.500 đồng của Công ty TNHH L1 đem bán cho người khác lấy tiền tiêu xài. Tổng trị giá mủ cao su nguyên liệu là 53.382.000 đồng (năm mươi ba triệu ba trăm tám mươi hai nghìn đồng). Cáo trạng số 87/CT-VKSBD-P1 ngày 17 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo
5
theo đội danh, khung hình phạt và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Hành vi của bị cáo Đào Minh M là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội. Về nhận thức, bị cáo biết rõ hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của bị hại là hành vi trái pháp luật nhưng vì tham lam tư lợi, bị cáo vẫn cố tình thực hiện, bất chấp hậu quả xảy ra, thể hiện tính xem thường pháp luật. Hành vi của bị cáo Đào Minh M đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” với tình tiết định khung “Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Sau khi phạm tội bị cáo bỏ trốn gây khó khăn cho cơ quan điều tra do vậy cần phải xử phạt bị cáo mức hình phạt tương xứng với hành vi của bị cáo nhằm có tác dụng răn đe, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Phạm tội 02 lần trở lên.
[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình.
[6] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương đề nghị về tội danh, mức hình phạt và điều luật là phù hợp với tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo nên được chấp nhận.
[7] Về trách nhiệm dân sự và biện pháp tư pháp: Công ty TNHH L đã nhận toàn bộ tiền bồi thường nên không yêu cầu thêm. Chề A P, Nguyễn Văn D đã bồi thường cho Công ty TNHH L toàn bộ giá trị tài sản chiếm đoạt; Chề A, Nguyễn Văn D không yêu cầu Đào Minh M trả lại tiền đã bồi thường cho Công ty TNHH L nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[8] Về xử lý vật chứng: không.
[9] Về án phí hình sự: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh:
- Về hình phạt:
Tuyên bố bị cáo Đào Minh M phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt:
bị cáo Đào Minh M 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/11/2023.
6
- Về xử lý vật chứng:
- Về án phí sơ thẩm:
không.
Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Bị cáo Đào Minh M phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Văn Chum |
Bản án số 65/2024/HS-ST ngày 10/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG về trộm cắp tài sản (vụ án hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 65/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Vụ án hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đào Minh M phạm tội Trộm cắp tài sản
