TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỘI AN TỈNH QUẢNG NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số:65/2024/HNGĐ-ST
Ngày:09-5-2024
V/v Tranh chấp chia tài sản sau khi ly hôn.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỘI AN, TỈNH QUẢNG NAM
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm Phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Hà
- - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Nể và ông Lê Viết Phúc;
- - Thư ký phiên tòa: Ông Zơ Râm Quốc Sinh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam tham gia phiên toà: Bà Phùng Thị Bông - chức vụ Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 5 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 164/2022/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 12 năm 2022 về việc “Tranh chấp chia tài sản sau khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Đặng Thị Kiều A, sinh năm: 1971; Địa chỉ: Số D, tổ I, khối phố B, phường T, quận A, thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
- - Bị đơn: Ông Huỳnh Việt D, sinh năm: 1965; Địa chỉ: Tổ A, thôn B, xã C, thành phố H, tỉnh Quảng Nam (có mặt).
- - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- + Bà Huỳnh Đặng Hải M, sinh năm: 1994 (có mặt);
- + Ông Huỳnh Đặng Trung H, sinh năm: 2001 (vắng mặt);
- Cùng địa chỉ: Thôn B, xã C, thành phố H, tỉnh Quảng Nam;
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết, xét xử, nguyên đơn bà Đặng Thị Kiều A trình bày:
Bà Đặng Thị Kiều A và ông Huỳnh Việt D là vợ chồng có đăng ký kết hôn nhưng đã ly hôn theo Quyết định số 03/2007/QĐ-HNGĐ-ST ngày 16 tháng 01 năm 2007 của Tòa án nhân dân thị xã Hội An (nay là thành phố H), tỉnh Quảng Nam, về tài sản chung và nợ chung chưa giải quyết.
Trong thời kỳ hôn nhân, bà A và ông D có tài sản chung là thửa đất 217 (308), tờ bản đồ số 8, diện tích 237,5m² (trong đó: 100m² loại đất ở nông thôn và 137,5m² loại đất trồng cây lâu năm); tại Tổ A, thôn B, xã C, thành phố H, tỉnh Quảng Nam. Nguồn gốc thửa đất do cha mẹ chồng cho vợ chồng ông bà cùng đứng tên, bản thân bà A là vợ hợp pháp của ông D và cùng sống trong thời kỳ hôn nhân, sau khi ly hôn ông D là người tiếp tục quản lý sử dụng thửa đất này.
Bà A nhiều lần yêu cầu ông D thỏa thuận phân chia tài sản chung nhưng ông D không đồng ý. Nay bà A yêu cầu phân chia tài sản chung trong thời kỳ hôn là thửa đất 217 (308), tờ bản đồ số 8, diện tích 237,5m² (trong đó: 100m² loại đất ở nông thôn và 137,5m² loại đất trồng cây lâu năm); tại Tổ A, thôn B, xã C, thành phố H, tỉnh Quảng Nam. Do thửa đất này không đủ điều kiện tách thửa và hiện nay ông D đang quản lý, sử dụng; bà A có nguyện vọng nhận giá trị theo phần, ông D phải có nghĩa vụ thối trả bằng tiền theo giá của Hội đồng định giá tài sản.
Đối với ngôi nhà trên đất và các tài sản gắn liền với đất thì bà A không yêu cầu Tòa án chia mà giao tài sản này cho ông D tiếp tục quản lý, sử dụng.
Bị đơn, ông Huỳnh Việt D trình bày: Ông D không đồng ý yêu cầu chia tài sản chung, vì lý do sau: Nguồn gốc thửa đất số 217 (308), tờ bản đồ số 8, diện tích 237,5m² (trong đó: 100m² loại đất ở nông thôn và 137,5m² loại đất trồng cây lâu năm); tại tổ A, thôn B, xã C, thành phố H, tỉnh Quảng Nam là do cha mẹ ông D cho một mình ông D vào năm 1999 sau khi ông D khước từ tài sản của cha mẹ tại số nhà E T, để lại cho các em ông D. Từ năm 1999, bản thân ông D quản lý sử dụng đất này, đến năm 2001, ông D chuyển nhượng cho ông Trương C và ông Trương Châu T một phần diện tích đất nhưng chưa làm thủ tục chuyển nhượng. Đến năm 2005 thì ông D được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng vì tình nghĩa vợ chồng ông D cho bà A đứng tên, bản chất thửa đất này là tài sản riêng do cha mẹ cho ông D. Đến khoảng năm 2016-2017, sau khi được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì những người mua đất của ông D mới làm thủ tục tách thửa và chuyển nhượng được. Sau khi chuyển nhượng thì thửa đất số 217 (308), tờ bản đồ số 8 còn lại diện tích 237,5m² (trong đó: 100m² loại đất ở nông thôn và 137,5m² loại đất trồng cây lâu năm).
Sở dĩ bà A được đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là do lúc đó vợ chồng chưa xảy ra mâu thuẫn, vì tình nghĩa nên ông D đồng ý để cho bà A cùng đứng tên. Bà A không có đóng góp công sức, tiền bạc, không có trách nhiệm gì trong việc làm nên tài sản cũng như quản lý, giữ gìn tài sản. Do đó bà A không có quyền yêu cầu chia tài sản, bản thân bà A không thực hiện đúng trách nhiệm của một người vợ, người mẹ, người con trong gia đình. Vợ chồng ông đã ly hôn theo Quyết định số 03/2007/QĐ-
HNGĐ-ST ngày 16 tháng 01 năm 2007, thì tài sản chung và nợ chung: Không có; bà A khước từ nhận tài sản. Do đó, tài sản đang tranh chấp này không phải của bà A. Vì vậy, thửa đất 217 (308), tờ bản đồ số 8, diện tích 237,5m² là tài sản của ông D và ông D không yêu cầu định giá. Bản thân ông D đang sinh sống trên thửa đất này và sau này ông D chết thì ông D sẽ để lại tài sản cho con nhưng để khi nào thì ông D chưa xác định được thời gian.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Huỳnh Đặng Hải M và ông Huỳnh Đặng Trung H cùng thống nhất trình bày: bà Huỳnh Đặng Hải M và ông Huỳnh Đặng Trung H là con của bà Đặng Thị Kiều A và ông Huỳnh Việt D. Theo Công văn số 3274/UBND ngày 04 tháng 12 năm 2023 của Ủy ban nhân dân thành phố H, tỉnh Quảng Nam thì thửa đất trên cấp cho hộ gia đình và có bà M, ông H trong hộ gia đình. Hiện nay, cha mẹ của bà M, ông H đang tranh chấp chia tài sản đối với thửa đất này thì bản thân bà M, ông H không yêu cầu Tòa án xem xét quyền lợi của bản thân, từ chối nhận tài sản này và giao toàn quyền lại cho bà A và ông D quyết định.
Đại diện VKSND thành phố Hội An phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
Quá trình Toà án cấp sơ thẩm đã thụ lý, giải quyết, xét xử vụ án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân thủ đúng quy định của BLTTDS. Nguyên đơn chấp hành tốt quy định của pháp luật, bị đơn không chấp hành quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án Viện kiểm sát cho rằng: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đặng Thị Kiều A về việc tranh chấp chia tài sản sau khi ly hôn với ông Huỳnh Việt D.
Giao ông Huỳnh Việt D được quyền sử dụng, quản lý đối với thửa đất 217 (308), tờ bản đồ số 8 (4), diện tích 237,5m² (trong đó: 100m² loại đất ở nông thôn và 137,5m² loại đất trồng cây lâu năm) và 01 ngôi nhà (nhà triệt, tường xây, mái lợp tôn kẽm, nền láy gạch men), có tứ cận như sau: Phía Bắc giáp thửa ONT 399; Phía Đông giáp đường ĐX 29; Phía Tây giáp thửa HNK 307; Phía Nam giáp thửa ONT 171.
Ông Huỳnh Việt D phải có nghĩa vụ thối trả cho bà Đặng Thị Kiều A số tiền chênh lệch là 1.350.000.000 đồng (một tỷ ba trăm năm mươi triệu đồng).
Về nợ chung: Các đương sự khai không có.
Về chi phí tố tụng bao gồm chi phí đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản thì nguyên đơn tự nguyện chịu không yêu cầu xem xét.
Về án phí: Các đương sự phải chịu án phí chia tài sản chung theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Đây là vụ án hôn nhân gia đình tranh chấp về tài sản sau khi ly hôn giữa nguyên đơn bà Đặng Thị Kiều A và bị đơn ông Huỳnh Việt D. Nơi cư trú của bị đơn và tài sản tranh chấp tại địa chỉ: xã C, thành phố H, tỉnh Quảng Nam nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hội An theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm c khoản 1 Điều 39 BLTTDS.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Huỳnh Đặng Trung H vắng mặt tại phiên tòa và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 227 BLTTDS.
[2] Về nội dung:
[2.1] Tài sản tranh chấp:
Bà Đặng Thị Kiều A và ông Huỳnh Việt D là vợ chồng có đăng ký kết hôn vào năm 1993 nhưng đã ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 03/2007/QĐ-HNGĐ-ST ngày 16 tháng 01 năm 2007 của Tòa án nhân dân thị xã Hội An (nay là thành phố H), tỉnh Quảng Nam.
Nguyên đơn khai giữa bà A và ông D có tài sản chung là thửa đất số 217, tờ bản đồ số 8, diện tích còn lại là 237,5m² (trong đó: 100m² loại đất ở nông thôn và 137,5m² loại đất trồng cây lâu năm) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 399851 do Ủy ban nhân dân thị xã H (nay là thành phố H) cấp cho người sử dụng đất là hộ ông Huỳnh Việt D và bà Đặng Thị Kiều A nhưng chưa được chia.
Bị đơn ông D cho rằng tài sản trên là của riêng ông D được cha mẹ cho trong thời kỳ hôn nhân, nhưng vì tình nghĩa vợ chồng nên ông D cho bà A cùng đứng tên chung trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 399851 do Ủy ban nhân dân thị xã H (nay là thành phố H) và bà A đã có văn bản khước từ tài sản.
Mặc dù, tại Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 03/2007/QĐ-HNGĐ-ST ngày 16 tháng 01 năm 2007 của Tòa án nhân dân thị xã Hội An (nay là thành phố H) thì tài sản chung là không có. Nhưng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 399851 do Ủy ban nhân dân thị xã H (nay là thành phố H) cấp cho người sử dụng đất là hộ ông Huỳnh Việt D và bà Đặng Thị Kiều A và tại Công văn số 3274/UBND ngày 04 tháng 12 năm 2023 của Ủy ban nhân dân thành phố H, tỉnh Quảng Nam thì tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận thì Hộ khẩu số 32314 vào năm 2007, hộ ông Huỳnh Việt D gồm có: Ông Huỳnh Việt D (chủ hộ), bà Đặng Thị Kiều A (vợ), bà Huỳnh Đặng Hải M (con), ông Huỳnh Đặng Trung H (con), sổ hộ khẩu ghi thời gian chuyển đến là ngày 20/3/2000.
Quá trình quản lý, sử dụng đăng ký biến động về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khắc gắn liền với đất, có nội dung về lý do biến động là do xin chuyển mục đích sử dụng đất, người ký đơn là ông Huỳnh Việt D và bà Đặng Thị Kiều A.
Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định thửa đất 217, tờ bản đồ số 8, diện tích còn lại là 237,5m² (trong đó: 100m² loại đất ở nông thôn và 137,5m² loại đất trồng cây lâu năm) là tài sản của hộ gia đình nhưng chưa được chia.
Quá trình giải quyết vụ án, bà Huỳnh Đặng Hải M và ông Huỳnh Đặng Trung H là con chung của bà Đặng Thị Kiều A và ông Huỳnh Việt D; bà M, ông H không yêu cầu Tòa án xem xét quyền lợi của bản thân, từ chối nhận tài sản chung này và giao toàn quyền lại cho bà A và ông D quyết định. Bà A và ông D không có ý kiến gì. Do đó, tài sản trên là của bà A và ông D. Bà A và ông D thống nhất diện tích còn lại là 237,5m² và ngôi nhà trên đất và ông D là người đang quản lý sử dụng tài sản trên.
[2.2] Về giá trị của tài sản thì nguyên đơn thống nhất như biên bản định giá tài sản ngày 10 tháng 3 năm 2023 và không yêu cầu định giá lại; đối với bị đơn đã được Tòa án thông báo về kết quả định giá nhưng ông D cho rằng tài sản đang tranh chấp không phải của bà A mà đây là tài sản riêng của ông D nên không yêu cầu định giá lại.
Căn cứ vào Công văn số 3274/UBND ngày 04 tháng 12 năm 2023 của Ủy ban nhân dân thành phố H, tỉnh Quảng Nam về nguồn gốc thì thửa đất 217 (308), tờ bản đồ số 8 (4), diện tích 237,5m² (trong đó: 100m² loại đất ở nông thôn và 137,5m² loại đất trồng cây lâu năm); tại Tổ A, thôn B, xã C, thành phố H, tỉnh Quảng Nam; đối với đất trồng cây lâu năm có nguồn gốc vườn ao cùng thửa có đơn giá bằng 50% giá đất ở cùng thửa và giá đất định giá theo Biên bản định giá ngày 10 tháng 3 năm 2023 không phù hợp với giá tại thời điểm giải quyết vụ án. Do đó, Tòa án căn cứ vào khoản 5 Điều 104 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành thành lập Hội đồng đình giá và định giá lại tài sản đang tranh chấp.
Tại phiên tòa, nguyên đơn thống nhất với giá Hội đồng định giá vào ngày 06/5/2024 và không có ý kiến gì; bị đơn giữ nguyên ý kiến cho rằng tài sản đang tranh chấp không phải của bà A mà đây là tài sản riêng của ông D nên không yêu cầu định giá.
Do đó, HĐXX căn cứ vào giá theo Biên bản định giá ngày 06/5/2024 để làm căn cứ giải quyết vụ án.
[2.3] HĐXX xét thấy:
Theo Quy định tại Điều 14 của Quyết định số 15/2020/QĐ-UBND ngày 05/11/2020 của Ủy ban nhân dân tỉnh Q về quy định hạn mức giao, hạn mức công nhận quyền sử dụng đất và diện tích tối thiểu được tách thửa đối với các loại đất trên địa bàn tỉnh Quảng Nam thì thửa đất 217 (308), tờ bản đồ số 8 (4), diện tích 237,5m² trên không đủ điều kiện tách thửa.
Theo Biên bản định giá tài sản ngày 06 tháng 5 năm 2024, thì thửa đất trên có giá trị là 2.700.000.000 đồng (hai tỷ bảy trăm triệu đồng). Bà A không yêu cầu nhận tài sản mà có nguyện vọng nhận ½ giá trị tài sản theo định giá, đối với ngôi nhà trên đất, bà A
không yêu cầu xem xét giải quyết và đồng ý giao ngôi nhà cho ông D sử dụng. Tài sản trên, ông D hiện là người đang quản lý sử dụng.
Hội đồng xét xử thống nhất giao toàn bộ thửa đất 217 (308), tờ bản đồ số 8 (4), diện tích 237,5m² (trong đó: 100m² loại đất ở nông thôn và 137,5m² loại đất trồng cây lâu năm) và 01 ngôi nhà (nhà triệt, tường xây, mái lợp tôn kẽm, nền lát gạch men) cho ông Huỳnh Việt D quản lý sử dụng, có tứ cận như sau:
- - Phía Bắc giáp thửa ONT 399;
- - Phía Đông giáp đường ĐX 29;
- - Phía Tây giáp thửa HNK 307;
- - Phía Nam giáp thửa ONT 171.
Ông Huỳnh Việt D phải có nghĩa vụ thối trả cho bà Đặng Thị Kiều A số tiền chênh lệch là 1.350.000.000 đồng (một tỷ ba trăm năm mươi triệu đồng).
Về nợ chung: Các đương sự khai không có.
Về chi phí tố tụng bao gồm chi phí đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản thì nguyên đơn tự nguyện chịu không yêu cầu xem xét.
[3] Về án phí: Các đương sự phải chịu án phí chia tài sản chung theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm c khoản 1 Điều 39, Điều 227, 228, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 212 của Bộ luật Dân sự; Điều 59, Điều 62 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đặng Thị Kiều A đối với bị đơn ông Huỳnh Việt D về việc “Tranh chấp chia tài sản sau khi ly hôn”.
Ông Huỳnh Việt D được quyền quản lý, sử dụng đối với thửa đất 217 (308), tờ bản đồ số 8 (4), diện tích 237,5m² (trong đó: 100m² loại đất ở nông thôn và 137,5m² loại đất trồng cây lâu năm) và 01 ngôi nhà (nhà triệt, tường xây, mái lợp tôn kẽm, nền lát gạch men), có tứ cận như sau:Phía Bắc giáp thửa ONT 399;
- Phía Đông giáp đường ĐX 29;
- Phía Tây giáp thửa HNK 307;
- Phía Nam giáp thửa ONT 171.
Ông Huỳnh Việt D phải có nghĩa vụ thối trả cho bà Đặng Thị Kiều A số tiền chênh lệch là 1.350.000.000 đồng (một tỷ ba trăm năm mươi triệu đồng).
(Kèm theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 399851 do Ủy ban nhân dân thị xã H (nay là thành phố H) cấp cho người sử dụng đất là hộ ông Huỳnh Việt D và bà Đặng Thị Kiều A)
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Về nợ chung: Các đương sự khai không có.
3/ Về án phí: Bà Đặng Thị Kiều A phải chịu 52.500.000 đồng (năm mươi hai triệu năm trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp là 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) theo biên lai thu số 0007427 ngày 05 tháng 12 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hội An. Bà Đặng Thị Kiều A phải nộp thêm 47.500.000 đồng (bốn mươi bảy triệu năm trăm nghìn đồng) án phí. Ông Huỳnh Việt D phải chịu 52.500.000 đồng (năm mươi hai triệu năm trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án Người vắng mặt có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa |
Bản án số 65/2024/HNGĐ-ST ngày 09/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỘI AN, TỈNH QUẢNG NAM về tranh chấp chia tài sản sau khi ly hôn
- Số bản án: 65/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia tài sản sau khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỘI AN, TỈNH QUẢNG NAM
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chia tài sản
