|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 65/2024/HNGĐ-ST Ngày 08-8-2024 “V/v chị Thêm ly hôn anh Nguyện” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Thành Công
Các Hội thẩm nhân dân :
Ông Trần Văn Quang
Ông Phạm Văn Thọ
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Lan Anh - Thư ký của Toà án nhân dân tỉnh Nam Định.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Bà Trần Thu Hà - Kiểm sát viên
Ngày 08 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 72/2024/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 5 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 291/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 7 năm 2024, giữa:
Nguyên đơn: Chị Vũ Thị T, sinh ngày 25/6/1981.
Nơi cư trú: Số B đường N, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định. Vắng mặt.
Bị đơn: Anh Nguyễn Đức N, sinh ngày 13/3/1978.
Nơi đăng ký hộ khẩu: Số B đường N, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định.
Hiện đang cư trú tại Cộng hoà liên bang Nga. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai chị Vũ Thị T trình bày:
Chị T và anh Nguyễn Đức N có thời gian tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn ký hôn ngày 20 tháng 12 năm 2002 tại Ủy ban nhân dân phường N, thành phố N, tỉnh Nam Định trên cơ sở tự nguyện, theo đúng quy định của pháp luật. Sau khi kết hôn, vợ chồng hạnh phúc thời gian đầu sau đó thường xuyên mâu thuẫn do tính tình không hợp. Hiện anh N đang sinh sống tại Cộng hòa Liên bang N3 nên vợ chồng ly thân từ năm 2015 đến nay. Nay chị T xác định tình cảm vợ chồng không còn, không có khả năng hàn gắn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh N.
Về con chung: Chị T và anh N có 02 con chung là Nguyễn Thị Hoài L ngày 29/5/2004 và Nguyễn Đức N1 sinh ngày 24/02/2008. Hiện nay cháu L1 đã trưởng thành và tự lập được. Chị T đề nghị được trực tiếp nuôi cháu N1 và tự nguyện không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản: Chị T không yêu cầu giải quyết.
Anh Nguyễn Đức N mặc dù đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng hiện nay anh đang ở Cộng hòa Liên bang N nên không có mặt tại Toà án để giải quyết vụ án.
Kiểm sát viên phát biểu quan điểm: Về việc tuân theo pháp luật: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng, đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn không thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.
Về nội dung: Xử cho ly hôn giữa chị T và anh N. Con chung: Hiện nay cháu L1 đã trưởng thành và tự lập được. Giao cho chị T được quyền nuôi dưỡng con là Nguyễn Đức N1 sinh ngày 24/02/2008. Anh N không phải cấp dưỡng nuôi con. Án phí: chị T phải nộp theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
- Về tố tụng: Chị T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Anh N mặc dù đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên toà. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228, khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự Toà án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh N đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường N, thành phố N, tỉnh Nam Định, đây là hôn nhân hoàn toàn tự nguyện, hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Tuy nhiên trong quá trình chung sống vợ chồng đã nảy sinh mâu thuẫn và hai người đã ly thân từ năm 2015 đến nay. Khi chị T làm thủ tục ly hôn, anh N đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng không đến Toà án để làm việc điều đó chứng tỏ tình trạng vợ chồng đã trở nên trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T đối với anh N.
- Về con chung: Chị T và anh N có 02 con chung là Nguyễn Thị Hoài L2 sinh ngày 29/5/2004 và Nguyễn Đức N1 sinh ngày 24/02/2008. Hiện nay cháu L2 đã trưởng thành và tự lập được. Chị T đề nghị được trực tiếp nuôi cháu N1 và cháu N1 có nguyện vọng được ở cùng mẹ nên giao cho chị T được quyền trực tiếp nuôi dưỡng cháu N1. Chấp nhận việc chị T tự nguyện không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con. Anh N có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con mà không ai được cản trở.
- Về tài sản: Chị T không yêu cầu Toà án giải quyết. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu sau này anh N có yêu cầu về tài sản sẽ được giải quyết bằng vụ kiện khác.
- Về án phí: Chị T1 nộp án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83, 123, 127 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQUBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí Tòa án.
- Xử cho ly hôn giữa chị Vũ Thị T và anh Nguyễn Đức N.
- Về con chung: Giao cho chị Vũ Thị T được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con Nguyễn Đức N1 sinh ngày 24/02/2008. Chấp nhận việc chị T tự nguyện không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con. Anh N có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con mà không ai được cản trở.
- Án phí: Chị T1 nộp 300.000 đồng án phí ly hôn được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp án phí tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Nam Định theo biên lai số 0005743 ngày 14 tháng 5 năm 2024. Chị T đã nộp xong án phí.
- Trong thời hạn 15 ngày Vũ Thị Thêm, anh Nguyễn Đức N2 quyền kháng cáo kể từ ngày nhận được bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì các đương sự có quyền tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chết thi hành theo các Điều 6,7, 7a, 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành bản án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thành Công |
Bản án số 65/2024/HNGĐ-ST ngày 08/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 65/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, nuôi con chung
