Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐÔNG HƯNG

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số 65/2024/ST- HS

Ngày 08/7/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG – TỈNH THÁI BÌNH

Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Nhung.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Duy Quyến và ông Nguyễn Thế Đức

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huế - Kiểm sát viên.

Trong ngày 08/7/2024 Tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng mở phiên Tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 58/2024/TLST – HS ngày 17/5/2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 63/2024/QĐ - TA ngày 20/6/2024, đối với :

Bị cáo: Nguyễn Ngọc K, sinh ngày 21/01/1985; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam;

Nơi sinh và cư trú: thôn V, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Bình. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không;Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Nguyễn Quang B và bà Nguyễn Thị T, (đều đã chết); Có vợ: Dương Thị M sinh năm 1990; Con: có 02 con, con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2018;

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “cấm đi khỏi nơi cư trú.”

(Bị cáo có mặt tại phiên tòa)

Bị hại: Ông Vũ Đức S sinh năm 1973, (đã chết)

Cư trú tại: Thôn H, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình

Người đại diện hợp pháp của người bị hại:

  1. Bà Phạm Thị L, sinh năm 1982 ( Là vợ ông S)
  2. Anh Vũ Tiến T1, sinh năm 2001( Là con ông S)

Đều cư trú tại: Thôn H, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình

Người có quyền lợi liên quan:

  1. Anh Vũ Tiến D, sinh năm 2008 (Là con ông S)
  2. Cháu Vũ An N, sinh năm 2024 ( Là con ông S)
  3. Ông Vũ Đức Q, sinh năm 1967.

Đều cư trú tại: Thôn H, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình

Người đại diện hợp pháp cho anh D, cháu N đồng thời là người được anh T1, anh D ủy quyền:

Bà Phạm Thị L, sinh năm 1982

Cư trú tại: Thôn H, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình

(có mặt bà L còn lại đều vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Ngọc K, có giấy phép lái xe ô tô hạng C do Sở Giao thông vận tải tỉnh Q cấp ngày 11/8/2020.

Ngày 25/01/2024, K điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 92C-080.29, loại xe tải tự đổ, nhãn hiệu CƯULONG, màu sơn xanh chở vật liệu xây dựng từ đê xã Đ đến khu công nghiệp G. Khoảng 13 giờ 50 phút cùng ngày, K điều khiển xe đến đoạn đường ĐH51 thuộc địa phận thôn H, xã Đ, huyện Đ. Tại đoạn đường này đường thẳng, mặt đường rải đá nhựa Apphan bằng phẳng chia làm 02 phần đường ngược chiều nhau được phân cách bởi vạch sơn đứt nét màu vàng rộng 0m15. Phần đường bên phải theo chiều xã Đ đi Quốc lộ A rộng 3m65, tiếp giáp là lề đường rộng 0m60, có đường nhánh đi vào thôn T, xã Đ, cách đường nhánh 60m40 về phía xã Đ có biển báo hiệu giao nhau với đường nhánh hai bên (W.207e); làn đường bên trái rộng 3m55, tiếp giáp là lề đường rộng 0m50 và có đường đi vào thôn H, xã Đ. Lúc này, trời sáng, tạnh ráo, mật độ giao thông thưa. Khuê điều khiển xe ô tô tải đi ở phần đường bên phải theo chiều đi với tốc độ khoảng trên 50km/h và quan sát thấy có biển cảnh báo giao nhau với đường nhánh từ hai bên nhưng không giảm tốc độ. Đồng thời, K nhìn thấy ông Vũ Đức S đang điều khiển xe đạp đi từ đường nhánh bên phải đi hướng ra đường ĐH51, cách đầu xe ô tô do K điều khiển khoảng hơn 10m. Khi đi gần đến mép đường ông S đi chậm lại rồi tiếp tục đi vào đường Đ rồi chuyển hướng sang bên trái đường. Thấy vậy, K liền đạp phanh và đánh lái sang bên trái để tránh, nhưng do khoảng cách gần, không làm chủ được tốc độ nên phần bánh lốp trước bên phải xe ô tô do K điều khiển đã va chạm với tấm phản quang gắn ở chắn bùn phía sau sau xe đạp của ông S làm ông S bị ngã nằm ở phần đường bên trái, xe đạp bị đổ nghiêng sang bên trái nằm ở giữa đường. Quá trình đánh lái, K đã điều khiển xe ô tô sang hẳn phần đường của xe ngược chiều và phần đầu bên trái xe ô tô do Khuê điều khiển đã va chạm với phần thùng bên trái xe ba bánh tự chế do ông Vũ Đức Q đang điều khiển đi ngược chiều ở vị trí sát lề đường bên trái. Sau khi va chạm với xe ba bánh tự chế, K liền đánh lái sang bên phải để tránh, quá trình điều khiển xe theo hướng trở lại phần đường của mình thì bánh lốp sau bên phải xe ô tô do K điều khiển đã đè lên người ông S, đẩy rê ông S đi về phía trước khoảng 3m80 thì dừng hẳn. Hậu quả, ông S chết tại hiện trường.

Kết luận giám định tử thi số 146/KLGĐTT-KTHS ngày 23/02/2024 của phòng K1 Công an tỉnh T đối với ông Vũ Đức S. Kết quả chính: Khám ngoài, trên tử thi có các vết sây sát da, rách toác da cơ, sưng nề, tụ máu tại vùng đầu, mặt và toàn thân. Qua kiểm tra sờ, nắn thấy gãy xương ức, gãy 06 xương sườn bên phải, gãy 06 xương sườn bên trái, vỡ xương cánh chậu hai bên, gãy xương mu, gãy toàn bộ đốt sống thắt lưng. Khám trong: Đứt động mạch đùi trái. Kết luận: Nạn nhân Vũ Đức S chết do đa chấn thương.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn Ngọc K đã tự nguyện thỏa thuận bồi thường thiệt hại xong cho gia đình bị hại với số tiền là 130.000.000 đồng. Đối với ông Vũ Đức Q, ông Q không bị thương, xe ba bánh tự lắp ráp của ông bị hư hỏng nhẹ, ông không yêu cầu bị cáo phải bồi thường.

Xe ô tô biển số 92C - 080.29 và 01 xe đạp, Cơ quan điều tra đã trả lại cho gia đình chủ sở hữu; Xe ba bánh tự chế quản lý của ông Vũ Đức Q là xe không đảm bảo an toàn kỹ thuật, được sản xuất lắp ráp trái quy định, Cơ quan điều tra đã bàn giao cho đội Cảnh sát giao thông Công an huyện Đ để xử lý; Giấy phép lái xe hạng C số [...] mang tên Nguyễn Ngọc K, sinh ngày 21/01/1985, trú tại xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Bình, do Sở G cấp ngày 11/8/2020 được chuyển theo hồ sơ vụ án.

Tại bản cáo trạng số 58/CT - VKSĐH ngày 16/5/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng đã truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc K về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo Điểm a, khoản 1 Điều 260 BLHS.

Tại phiên tòa bị cáo K khai nhận: Khoảng 13 giờ 50 phút ngày 25/01/2024, tại khu vực đường giao nhau trên trục đường ĐH51 thuộc địa phận thôn H, xã Đ, huyện Đ có biển báo hiệu nguy hiểm W.207e, Nguyễn Ngọc K có giấy phép lái xe ô tô hợp lệ, điều khiển xe ô tô Biển kiểm soát 92C-080.29 theo hướng xã Đ đi Quốc lộ A do không làm chủ tốc độ nên đã va chạm với xe đạp do ông Vũ Đức S điều khiển, làm ông S ngã ra đường. Hậu quả, làm ông S bị chết tại hiện trường.

Tại phiên tòa bà L trình bày: Quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Ngọc K tự nguyện thỏa thuận bồi thường cho gia đình bà số tiền 130.000.000 đồng để khắc phục hậu quả vụ tai nạn giao thông. Gia đình bà đã nhận đủ số tiền trên. Nay gia đình bà không yêu cầu bị cáo phải bồi thường bất cứ khoản nào khác, bà cũng không yêu cầu bị cáo phải cấp dưỡng nuôi các con chưa thành niên của bà và vẫn giữ nguyên ý kiến xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo K.

Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ áp dụng Điểm a, khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 38, 65 Bộ luật hình sự. Phạt bị cáo mức án từ 01(một) năm 06(sáu) tháng đến 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 03 năm - 03(ba) năm 06 (sáu) tháng. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Đề nghị HĐXX công nhận sự tự thỏa thuận của gia đình bị cáo và đại diện hợp pháp của bị hại về việc bị cáo tự nguyện bồi thường xong cho gia đình bị hại số tiền 130.000.000 đồng. Chấp nhận tự nguyện của bà L không yêu cầu bị cáo cấp dưỡng nuôi anh D, cháu N. Ông Vũ Đức Q không bị thương, xe ba bánh tự lắp ráp của ông bị hư hỏng nhẹ, ông Q không yêu cầu bị cáo phải bồi thường nên không đặt ra giải quyết. Đề nghị trả lại giấy phép lái xe ô tô cho bị cáo và án phí.

Bị cáo, bà L nhất trí với bản luận tội của Viện kiểm sát và không có ý kiến tranh luận với Đại diện Viện kiểm sát về tội danh, mức hình phạt và các vấn đề khác do Kiểm sát viên đề nghị.

Kết thúc phần tranh luận bị cáo nói lời sau cùng, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất và xin được cải tạo tại địa phương.

PHẦN NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi quyết định tố tụng:

Các tài liệu chứng cứ do Điều tra viên, Kiểm sát viên thu thập trong quá trình điều tra vụ án thì thấy đã tuân thủ các quy định của pháp luật. Đó là các tài liệu hợp pháp chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo. Căn cứ vào các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, của Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng, của Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa đúng như lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi liên quan, đại diện hợp pháp cho bị hại và phù hợp với :

  • Biên bản Khám nghiệm hiện trường, Sơ đồ hiện trường lập hồi 14 giờ 15 ngày 25/01/2024 và Bản ảnh hiện trường. Hiện trường để lại còn nguyên vẹn. Nạn nhân chết trong tư thế nằm ngửa ở vị trí phía trước của bánh sau bên phải xe ô tô; Xe ô tô sau tai nạn dừng tại hiện trường, đầu xe hướng đi Quốc lộ A và hơi xiên sang mép đường bên phải, trục bánh trước bên phải cách mép đường bên phải 2m90, trục bánh sau cách mép đường bên phải 3m90; Xe đạp sau tai nạn đổ nghiêng bên trái xuống đường, đầu xe hướng đi Quốc lộ A và xiên sang bên phải đường, tâm trục bánh trước cách mép đường bên phải 2m10, tâm trục bánh sau cách mép đường bên phải 3m80; 01 vết phanh kép kích thước (10,55x0,50)m, đầu vết cách mép đường bên phải 5m90, cách đầu vạch sơn dành cho người đi bộ sang đường 1m45, cuối vết kết thúc tại mặt lăn trục sau bên trái xe ô tô; 01 vết trượt kích thước (3,80x0,50)m, đầu vết cách mép đường bên phải 4m60, cuối vết kết thúc tại mặt lăn trục sau bên phải xe ô tô và người nạn nhân; 01 vết cà mặt đường kích thước (3,10x0,01)m. Đầu vết cách mép đường bên phải 4m10, cuối vết kết thúc tại đầu ngoài bàn đạp bên phải xe đạp, vết có chiều từ xã Đ đi Quốc lộ A và xiên từ trái sang phải ;
  • Biên bản khám nghiệm phương tiện ngày 27/01/2024 và Bản ảnh phương tiện. Các dấu vết cơ bản: Xe ô tô biển kiểm soát 92C-080.29, dấu vết bên phải xe: Mặt trước cạnh ngoài chắn bùn bánh trước bằng nhựa màu đen có dấu vết tì miết chùi quệt sạch bụi trên bề mặt nhựa mới kích thước (8x2)cm, vị trí thấp nhất của vết cách đất 102cm, vết có chiều trước về sau, trái sang phải, dưới lên trên. Mặt ngoài lá răng bánh trước có dấu vết tì miết chùi quệt sạch bụi mới kích thước (5x0,5)cm, vết có chiều trên xuống dưới ngược chiều tiến của bánh xe. Nửa sau chắn bùn phía trước có dấu vết nứt vỡ nhựa mới. Mặt lăn, má lốp bánh thứ nhất bên ngoài của trục bánh sau có dấu vết tì miết trượt xước cao su mới kích thước (30x20)cm, vết có chiều tâm ra ngoài, ngược chiều tiến của bánh xe. Bề mặt có bám dính tạp chất màu nâu, màu trắng (nghi là máu người); Xe đạp kiểu dáng xe mini loại hai típ lượn màu sơn đỏ, phía trên giá đèo hàng phía sau được buộc một giá bằng gỗ kích thước (53x35) cm, có các dấu vết: Giá gỗ bị đẩy xô lệch hướng từ trên xuống dưới, từ phải sang trái. Tấm phản quang được lắp tại chắn bùn phía sau bị đẩy xô lệch hướng từ phải sang trái, từ trên xuống dưới làm cong bẹp một phần chắn bùn sau ;
  • Kết luận giám định tử thi số 146/KLGĐTT-KTHS ngày 23/02/2024 của phòng K1 Công an tỉnh T đối với ông Vũ Đức S. Kết quả chính: Khám ngoài, trên tử thi có các vết sây sát da, rách toác da cơ, sưng nề, tụ máu tại vùng đầu, mặt và toàn thân. Qua kiểm tra sờ, nắn thấy gãy xương ức, gãy 06 xương sườn bên phải, gãy 06 xương sườn bên trái, vỡ xương cánh chậu hai bên, gãy xương mu, gãy toàn bộ đốt sống thắt lưng. Khám trong: Đứt động mạch đùi trái. Kết luận: Nạn nhân Vũ Đức S chết do đa chấn thương ;
  • Hình ảnh video trích xuất từ camera an ninh của Công an xã Đ. Kết luận giám định số 194/KL-KTHS ngày 20/02/2024, kết luận: Không phát hiện thấy dấu hiệu cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh của 02 (hai) tập tin video trong USB gửi giám định; Hình ảnh và diễn biến liên quan đến vụ tai nạn giao thông được trích xuất, mô tả trong Phụ lục kèm theo Kết luận giám định;
  • Các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án .

Do vậy có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 13 giờ 50 phút ngày 25/01/2024, tại khu vực đường giao nhau trên trục đường ĐH51 thuộc địa phận thôn H, xã Đ, huyện Đ có biển báo hiệu nguy hiểm W.207e, Nguyễn Ngọc K có giấy phép lái xe ô tô hợp lệ, điều khiển xe ô tô Biển kiểm soát 92C-080.29 theo hướng xã Đ đi Quốc lộ A nhưng không giảm tốc độ, khi phát thấy ông Vũ Đức S điều khiển xe đạp chuyển hướng từ đường nhánh bên phải sang bên trái đường theo chiều đi của K, do không làm chủ tốc độ nên phần bánh lốp trước bên phải xe ô tô do Khuê điều khiển đã va chạm với phần chắn bùn phía sau xe đạp của ông S, làm ông S ngã ra đường, bánh lốp sau bên phải xe ô tô đè lên người ông S. Hậu quả, ông S chết tại hiện trường.

Như vậy hành vi của bị cáo đã vi phạm khoản 1 Điều 12 Luật giao thông đường bộ (được quy định cụ thể tại khoản 1 Điều 5 Thông tư 31 ngày 29/8/2019 của Bộ G) nên bị cáo đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Luật Giao thông đường bộ quy định:

Điều 12. Tốc độ xe và khoảng cách giữa các xe

“1. Người lái xe, người điều khiển xe máy chuyên dùng phải tuân thủ quy định về tốc độ xe chạy trên đường và phải giữ một khoảng cách an toàn đối với xe chạy liền trước xe của mình; ở nơi có biển báo "Cự ly tối thiểu giữa hai xe" phải giữ khoảng cách không nhỏ hơn số ghi trên biển báo”.

Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G quy định:

Điều 5. Các trường hợp phải giảm tốc độ

“Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn trong các trường hợp sau:

  1. Có báo hiệu cảnh báo nguy hiểm hoặc có chướng ngại vật trên đường;

Điều 260 Bộ luật Hình sự về Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ:

“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Làm chết người;

5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”.

[3]Về tích chất mức độ hậu quả của hành vi phạm tội của bị cáo :

Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, gây nguy hại lớn cho xã hội, xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ còn gây hậu quả làm ông Vũ Đức S bị chết. Do vậy việc đưa vụ án ra xét xử và phạt bị cáo mức hình phạt tương xứng là cần thiết để cải tạo giáo dục bị cáo, để ngăn chặn và phòng ngừa chung.

Về nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo :

Về tình tiết giảm nhẹ : Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tích cực bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả cho gia đình người bị hại; đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị hại có một phần lỗi (chuyển hướng không đảm bảo an toàn vi phạm Điều 15 luật giao thông đường bộ) do vậy bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại tại điểm s, b khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.

Bị cáo là người có nhân thân tốt có nhiều tình tiết giảm nhẹ trong đó có hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 và hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự do vậy không nhất thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cần áp dụng điều 65 bộ luật hình sự cho bị cáo cải tạo tại địa phương để bị cáo thấy được tính khoan hồng của pháp luật.

[4] Về trách nhiệm dân sự:

Bị cáo Nguyễn Ngọc K đã tự nguyện thỏa thuận bồi thường thiệt hại xong cho gia đình bị hại với số tiền là 130.000.000 đồng. Bà Lơ là người đại diện hợp pháp của bị hại, người đại diện hợp pháp cho cháu N, anh D là người được anh T1 anh D ủy quyền không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm bất cứ khoản nào khác, không yêu cầu bị cáo cấp dưỡng nuôi anh D, cháu N do vậy cần công nhận sự tự thỏa thuận của bị cáo và gia đình bị hại và tự nguyện của bà L.

Đối với ông Vũ Đức Q trong vụ tai nạn trên ông Q không bị thương, xe ba bánh tự lắp ráp của ông bị hư hỏng nhẹ, ông Q không yêu cầu bị cáo phải bồi thường nên không đặt ra giải quyết.

[5] Về xử lý vật chứng vụ án và các vấn đề liên quan:

Xe ô tô biển số 92C - 080.29 và 01 xe đạp, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu; Xe ba bánh tự chế quản lý của ông Vũ Đức Q là xe không đảm bảo an toàn kỹ thuật, được sản xuất lắp ráp trái quy định, Cơ quan điều tra đã bàn giao cho đội Cảnh sát giao thông Công an huyện Đ để xử lý là đúng thẩm quyền. Hội đồng xét xử chấp nhận.

Đối với giấy phép lái xe hạng C số [...] mang tên Nguyễn Ngọc K, sinh ngày 21/01/1985, trú tại xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Bình, do Sở G cấp ngày 11/8/2020 được chuyển theo hồ sơ vụ án, cần trả lại cho bị cáo.

[6] Về án phí : Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

[7] Về quyền kháng cáo:

Bị cáo, Người đại diện hợp pháp của người bị hại, người được người đại diện hợp pháp của người bị hại ủy quyền, người có quyền nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

1/ Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Ngọc K phạm tội: “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”

2/ Về điều luật áp dụng và hình phạt:

Áp dụng điểm a, khoản 1 Điều 260, điểm s, b khoản 1 Điều 51 và khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 65 Bộ luật hình sự.

Tuyên phạt Nguyễn Ngọc K 02(hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 (bốn) năm. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Nguyễn Ngọc K cho UBND xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Bình giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, người hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đang cho hưởng án treo.

Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì áp dụng theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.

3/Về trách nhiệm dân sự:

Xử công nhận sự tự thỏa thuận của bị cáo Nguyễn Ngọc K và các đại diện hợp pháp của bị hại về việc bị cáo tự nguyện thỏa thuận bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại với số tiền là 130.000.000 đồng. Trong đó gia đình bị cáo K đã giao bà L đã nhận đủ số tiền 130.000.000 (Một trăm ba mươi triệu đồng) vào ngày 31/01/2024.

Chấp nhận tự nguyện của bà L không yêu cầu bị cáo K phải cấp dưỡng nuôi 02 con ông Vũ Đức S là Vũ Tiến D và Vũ An N.

4/ Về xử lý vật chứng:

Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên trả cho bị cáo giấy phép lái xe hạng C số [...] mang tên Nguyễn Ngọc K, sinh ngày 21/01/1985, trú tại xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Bình, do Sở G cấp ngày 11/8/2020.

5/ Về án phí:

Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Ngọc K phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

6/ Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự

Bị cáo, bà L có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án ngày 08/7/2024, anh T1, anh D, ông Q vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo
  • - Người đại diện hợp pháp của người bị hại
  • - Người có quyền lợi liên quan
  • - Công an huyện Đông Hưng
  • - Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng
  • - Chi cục THADS huyện Đông Hưng
  • - UBND xã Trọng Quan, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình.
  • - Lưu hs ; Văn phòng;

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Hà Thị Nhung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 65/2024/ST- HS ngày 08/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG – TỈNH THÁI BÌNH về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 65/2024/ST- HS
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG – TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Ngọc Kh phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger