Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BẮC BÌNH

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 65/2024/HS-ST

Ngày 08-7-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC BÌNH, TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Hoàng Huy

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Đức Toàn.
  2. Bà Nguyễn Thị Hạnh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lâm Hoàng Bảo Vân là Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Ông Lư Ngọc Quí - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 46/2024/TLST-HS, ngày 08 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 57/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 6 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 17/2024/HSST-QĐ ngày 20 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị Kim H, sinh ngày 07 tháng 11 năm 1982 tại tỉnh Bình Thuận; Nơi cư trú: Khu phố L, thị trấn L, huyện B, tỉnh Bình Thuận; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hoá (học vấn): 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông (không rõ) và bà Nguyễn Thị Kim H1 (đã chết); có chồng là Phạm Văn T và 03 người con; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, có mặt.

- Bị hại: Ông Nguyễn Thành Đ, sinh năm 1959 (đã chết)

Địa chỉ: Thôn H, xã H, huyện B, tỉnh Bình Thuận.

- Người đại diện hợp pháp của bị hại.

  1. Ông Nguyễn T1, sinh năm 1935 (Cha bị hại) (có đơn xin xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: Đường Nguyễn Hữu Cảnh, tổ 7, khu phố Xuân Hội, thị trấn Chợ Lầu, huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận

  1. Lê Thị H2, sinh năm 1970 (Vợ bị hại ) (có mặt)
  2. Chị Nguyễn Ngọc Thanh U, sinh năm 1994 (Con bị hại) (có đơn xin xét xử vắng mặt).
  3. Anh Nguyễn Lê Anh T2, sinh năm 2002 (Con bị hại) (có mặt)

Cùng địa chỉ: Thôn H, xã H, huyện B, tỉnh Bình Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Thị Kim H không có giấy phép lái xe theo quy định nhưng vẫn điều khiển xe mô tô biển số 86B2-621.67, hiệu Honda Airblade có dung tích xy-lanh 125 cm³ (do bà H đứng tên chủ sở hữu).

Trưa ngày 10/10/2023, ông Nguyễn Thành Đ là nhân viên làm việc tại Trạm Thủy lợi chi nhánh S (thuộc Công ty TNHH MTV T4), trong lúc ăn cơm trưa, ông Đ có uống rượu cùng một số nhân công đang xây dựng trụ sở mới cho Trạm thủy lợi tại xã S. Đến khoảng 15 giờ 00 phút cùng ngày 10/10/2023, ông Đ (có giấy phép lái xe) điều khiển xe gắn máy biển số 86AC- 008.62 rời trụ sở lưu thông trên đường Q hướng P đi P để về nhà tại xã H, huyện B.

Vào thời điểm này, bà Nguyễn Thị Kim H điều khiển xe mô tô biển số 86B2- 621.67 đang lưu thông trên đường Q cùng hướng P đi P, khi đến đoạn đường Km 1655+600m Quốc lộ A thuộc Khu phố L, thị trấn L, huyện B (là khu vực đông dân cư và gần đoạn mở dải phân cách cứng) mục đích chuyển hướng cho xe qua đoạn mở để về nhà ở phía bên phần đường ngược chiều. Lúc này, bà H đang chạy xe trên làn đường hỗn hợp xe mô tô - xe thô sơ ngoái đầu nhìn về phía sau, nhìn thấy một số xe mô tô cách vài chục mét đang chạy đến, do chủ quan cho rằng đã đảm bảo an toàn, bà H không bật đèn tín hiệu (xi-nhan) cảnh báo trước khi rẽ trái mà điều khiển xe mô tô chạy xiên dần từ phải qua trái để chuyển sang làn đường hỗn hợp xe ô tô - xe mô tô để vào đoạn mở dải phân cách. Cùng lúc này, ông Nguyễn Thành Đ điều khiển xe gắn máy biển số 86AC- 008.62 chạy từ phía sau đến, do thiếu chú ý quan sát, không giảm tốc độ đến mức an toàn nên xe mô tô của ông Đ đã tung vào đuôi xe mô tô biển số 86B2- 621.67 của bà H làm cả hai xe và ông Đ cùng bà H đều té xuống đường. Bà H bị thương xây xát nhẹ, tự điều trị tại nhà. Riêng ông Đ bất tỉnh được đưa đến cấp cứu tại Bệnh viện Đ1, sau đó chuyển ngay đến Bệnh viện Đa khoa tỉnh Đ1 tiếp tục điều trị, đến chiều ngày 11/10/2023 thì tử vong tại nhà. Cơ quan CSĐT Công an huyện B đã tiến hành khám nghiệm tử thi theo quy định.

Ngay sau khi tiếp nhận thông tin vụ tai nạn vào ngày 10/10/2023, Phòng Cảnh sát Giao thông - Công an tỉnh B đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện. Đến ngày 15/10/2023, sau khi ông Nguyễn Thành Đ đã tử vong, Phòng C đã bàn giao toàn bộ hồ sơ cùng tang vật liên quan đến Cơ

quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B để tiếp nhận, thụ lý giải quyết theo thẩm quyền.

*Tại biên bản khám nghiệm hiện trường lúc 16 giờ 05 phút ngày 10/10/2023 và biên bản xác định hiện trường hồi 09 giờ 00 phút ngày 09/11/2023 thể hiện như sau:

Hiện trường chung tại Km 1655 +600 Quốc lộ A thuộc khu phố L, thị trấn L, huyện B (hướng P đi P). Đây là khu vực đoạn đường thẳng, trải nhựa bằng phẳng, có dải phân cách chia làm hai phần đường ngược chiều nhau, mỗi phần đường được chia thành ba làn đường và nằm trong khu vực có biển báo khu vực đông dân cư. Chọn hướng xác định hiện trường là Phan T3 đi P, chọn lề phải hướng Phan T3 đi P làm lề chuẩn. Chọn bảng cột mốc H6/1665 trên dải phân cách cứng làm điểm mốc. Đặt số ghi nhận các dấu vết:

  • + Vị trí số (1): Đầu vết cày không liên tục (xe 86AC-008.62);
  • + Vị trí số (2): Cuối vết cày không liên tục là tâm trục giữa xe 86AC-008.62;
  • + Vị trí số (3): Đầu vết cày không liên tục (xe 86B2-621.67);
  • + Vị trí số (4): Vết máu;
  • + Vị trí số (5): Xe mô tô 86B2-621.67;
  • + Vị trí số (6): Cuối vết cày không liên tục (xe 86B2-621.67).

- Xe 86AC-008.62 sau tai nạn ngã nằm nghiêng bên phải trên làn đường dành cho xe ô tô. Đầu xe hướng vào mép lề chuẩn, đuôi xe hướng vào dải phân cách cứng.

- Xe 86B2-621.67 sau tai nạn được dựng đứng trên làn đường dành cho xe mô tô - xe thô sơ. Đầu xe hướng về P, đuôi xe hướng về P.

- Đo đạc các vị trí ghi nhận: vị trí số (1) cách số (2): 4m60, cách mép chuẩn 5m30; vị trí số (2) cách mép lề chuẩn 6m30; tâm trục bánh trước cách mép lề chuẩn 5m80, tâm trục bánh sau cách mép lề chuẩn 6m80; vị trí số (3) cách số (6): 3m70; cách mép lề chuẩn 5m90, cách tâm trục bánh trước xe (2) 1m10; vị trí số (4) cách (3): 3m70; cách mép lề chuẩn 3m60, vết máu kích thước (25 x 10) cm; vị trí số (5): tâm trục bánh trước cách lề chuẩn 0m90, cách tâm trục bánh trước xe (2) 5m40; tâm trục bánh sau cách mép lề chuẩn 0m70, cách (4) 2m70, cách (6) 0m80; vị trí số (6) cách mép lề chuẩn 0m95; Từ vị trí số (1) đo đến điểm mốc (H6/1665): 05m; đo vuông góc đến điểm đầu đoạn mở (hướng khám nghiệm) lần lượt là 14m40 +3m70.

*Tại Biên bản khám nghiệm phương tiện đối với xe mô tô 86B2-621.67 hồi 08 giờ ngày 11/10/2023 thể hiện:

- Đầu tay thắng bên phải có vết chà xước kim loại kích thước (1 x 1) cm; ốp nhựa phía dưới gác chân trước bên phải bị trầy xước, bể nhựa kích thước (38 x 4) cm; Gác chân sau bên phải có vết chà xước kim loại kích thước (1 x 2) cm;

ốp nhựa bộ phận giảm thanh bị chà xước kích thước (50 x 7) cm; Ốp nhựa bên hông trái phía sau xe bị vỡ rời khỏi xe kích thước (10 x 6,5) cm; Ốp nhựa bộ phận đèn tín hiệu, chuyển hướng phía sau bên trái bị vỡ kích thước (15 x 7,5) cm; Ốp nhựa bộ phận pô-e bên trái bị chà xước nhựa kích thước (8 x 7) cm; Biển số phía sau xe bị cong móp hướng từ sau ra trước và bị bể vỡ ốp nhựa bảo vệ; Chắn bùn bánh xe phía sau có vết chà xước kèm nút nhựa kích thước (13 x 4) cm.

*Tại Biên bản khám nghiệm phương tiện đối với xe gắn máy 86AC-008.62 hồi 08 giờ 45 ngày 11/10/2023 thể hiện:

- Kính chiếu hậu phía trước bên phải và bên trái bị bung rời khỏi vị trí; Đầu tay cầm lái bên phải có vết trầy rách cao su kích thước (4 x 2) cm; Đầu tay phanh trước bên phải bị gãy kim loại; Bộ phận đèn chiếu sáng, tín hiệu, chuyển hướng phía trước xe bị bung rời khỏi vị trí cố định; Chắn bùn bánh xe phía trước có vết chà xước kích thước (35 x 6) cm; Ốp nhựa bộ phận giảm xóc phía trước bên phải bị bung rời khỏi vị trí cố định; Mặt ngoài bộ phận giảm xóc bên phải bị chà xước kim loại kích thước (28 x 0,3) cm; Vành mâm bánh xe trước bị cong lệch hướng từ ngoài vào trong (13 x 1,5) cm. Bánh xe không còn hơi; Hệ thống lái chảng ba phía trước bị cong lệch hướng từ trước ra sau làm cho bánh xe trước bị ép về sau máy; Ốp nhựa chắn gió bên phải bị bể vỡ rơi khỏi vị trí cố định (70 x 30)cm; Đầu cần đạp phanh sau bên phải có vết chà xước kim loại kích thước (3 x 1) cm; Đầu gác chân trước bên phải có vết chà xước cao su kích thước (4 x 2,5) cm.

*Tại bản Kết luận giám định tử thi số 216/KLGĐTT-TTPYBT ngày 17/10/2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh B kết luận về nguyên nhân chết của ông Nguyễn Thành Đ như sau: Hôn mê sâu kéo dài không hồi phục do chấn thương sọ não nặng dẫn đến tử vong.

*Tại Công văn số 2496/BVBT-KHTH ngày 19/10/2023 của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Đ1 cung cấp kết quả nồng độ cồn trong máu ông Nguyễn Thành Đ tại thời điểm nhập viện hồi 17 giờ 08 phút ngày 10/10/2023 là 322.8 mg/100ml.

Về xử lý vật chứng:

Cơ quan điều tra có tạm giữ các phương tiện có liên quan và sau khi khám nghiệm phương tiện, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện B đã trả lại xe gắn máy biển số 86AC- 008.62, màu đen, hiệu ESPERO cùng các giấy tờ liên quan cho bà Lê Thị H2 là đại diện hợp pháp của chủ sở hữu (vợ ông Đ). Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thị Kim H 01 xe mô tô biển số 86B2-621.67, hiệu Honđa Air Blade màu đỏ bạc cùng giấy đăng ký xe theo quy định.

Đối với 01 USB do cơ quan điều tra trích xuất, thu giữ dữ liệu thể hiện diễn biến sự việc nơi xảy ra sự việc, được chuyển kèm hồ sơ vụ án.

Về phần bồi thường dân sự:

Đại diện ủy quyền cho bị hại là bà Lê Thị H2 yêu cầu Nguyễn Thị Kim H bồi thường chi phí mai tang, tổn thất tinh thần và các chi phí hợp lý khác theo bảng kê khai tổng số tiền 248.435.828,57 đồng.

Nguyễn Thị Kim H đã đến gia đình nạn nhân thăm hỏi và đã hỗ trợ bồi thường trước cho gia đình bà Lê Thị H2 số tiền 13.000.000 đồng. Bị cáo H đồng ý bồi thường số tiền 150.000.000 đồng. Ngày 16/4/2024, bị cáo Nguyễn Thị Kim H đã nộp số tiền 30.000.000 đồng vào tài khoản Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bắc Bình để đảm bảo việc thi hành trách nhiệm bồi thường. Bà H2 tiếp tục yêu cầu bồi thường số tiền còn lại.

*Tại Cáo trạng số 51/CT-VKSBB ngày 06/5/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận truy tố bị cáo Nguyễn Thị Kim H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

- Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận phát biểu quan điểm:

Giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Kim H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Áp dụng: Điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Kim H mức án 15 đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 30 đến 36 tháng.

Căn cứ vào: Điều 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 591, khoản 2 Điều 593, Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Về dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận bồi thường giữa bị cáo Nguyễn Thị Kim H và đại diện hợp pháp của bị hại về việc bị cáo H bồi thường số tiền 240.000.000 đồng cho gia đình bị hại.

- Ý kiến của bị cáo: Bị cáo đồng ý bồi thường số tiền 240.000.000 đồng cho gia đình bị hại. Xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo ở nhà chăm sóc gia đình, làm ăn để có tiền bồi thường cho gia đình bị hại.

- Ý kiến của đại diện hợp pháp của bị hại: Gia đình bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường chi phí cứu chữa ông Đ, chi phí mai táng, tiền tổn thất tinh thần, chi phí cấp dưỡng ông Nguyễn T1 (cha bị hại) với tổng số tiền là 240.000.000 đồng. Bị cáo đồng ý bồi thường số tiền này nên gia đình bị hại đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo sửa chữa lỗi lầm, làm ăn để có tiền bồi thường cho gia đình bị hại.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong quá trình

điều tra, truy tố, xét xử: Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng quy định về thẩm quyền, trình tự thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng là hợp pháp.

[2] Ông Nguyễn T1 và chị Nguyễn Ngọc Thanh U là đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Tại phiên tòa cũng đã có mặt bà Lê Thị H2, anh Nguyễn Lê Anh T2 là đại diện hợp pháp của bị hại trình bày ý kiến nên việc vắng mặt ông Nguyễn T1 và chị Nguyễn Ngọc Thanh U không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Do đó căn cứ Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử.

[3] Hội đồng xét xử nhận thấy:

Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 10/10/2023 tại đoạn đường Km 1655+600m Quốc lộ A thuộc Khu phố L, thị trấn L, huyện B (là khu vực đông dân cư và gần đoạn mở dải phân cách cứng), mặc dù không có giấy phép lái xe theo quy định, bị cáo Nguyễn Thị Kim H vẫn điều khiển xe mô tô biển số 86B2-621.67 lưu thông trên đường, không bật đèn tín hiệu (xi-nhan) cảnh báo trước khi rẽ trái mà điều khiển xe mô tô chạy xiên dần từ phải qua trái để chuyển sang làn đường hỗn hợp xe ô tô xe mô tô để vào đoạn mở dải phân cách để về nhà ở phía bên phần đường ngược chiều, khiến bị hại ông Nguyễn Thành Đ lúc này có nồng độ cồn trong máu là 322.8 mg/100ml, điều khiển xe gắn máy biển số 86AC-008.62 chạy từ phía sau đến, do thiếu chú ý quan sát, không giảm tốc độ đến mức an toàn nên xe mô tô của ông Đ đã tung vào đuôi xe mô tô biển số 86B2-621.67 của bị cáo H, hậu quả làm ông Đ chết.

Như vậy, hành vi của bị cáo Nguyễn Thị Kim H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” với tình tiết định khung “Không có giấy phép lái xe theo quy định” theo điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), đúng như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình truy tố bị cáo.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Không có.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã bồi thường một phần thiệt hại cho gia đình bị hại; nhân thân không có tiền án, tiền sự; bị cáo có mẹ ruột là bà Nguyễn Thị Kim H1 được thưởng Huy chương Kháng chiến hạng Nhì nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[6] Hội đồng xét xử nhận thấy hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Thị Kim H là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tình hình trật tự an toàn giao thông tại địa phương, xâm phạm trật tự quản lý hành chính Nhà nước. Tuy nhiên, trong vụ án này bị hại cũng có một phần lỗi. Do đó khi xử phạt bị cáo,

Hội đồng xét xử cũng cân nhắc áp dụng một mức án tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo, nhằm để răn đe, cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

Trong vụ án này, bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự nên Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự xử bị cáo dưới khung hình phạt của khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.

Bên cạnh đó, Hội đồng xét xử nhận thấy, sau khi vụ án xảy ra, bị cáo đã tích cực bồi thường số tiền 83.000.000 đồng cho gia đình bị hại, tại phiên tòa bị cáo cũng đồng ý bồi thường tổng số tiền 240.000.000 đồng theo yêu cầu của gia đình bị hại, thể hiện sự thiện chí, tinh thần trách nhiệm của bị cáo đối với hành vi đã gây ra; hơn nữa, tại phiên tòa gia đình bị hại cũng tha thiết xin cho bị cáo được hưởng án treo; bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án tiền sự; bị cáo có nơi cư trú rõ ràng; bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự; bị cáo có khả năng tự cải tạo nên bị cáo hội đủ các điều kiện được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự; Điều 2, Điều 3 của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo và Điều 1 của Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo. Do đó, Hội đồng xét xử nhận thấy không cần thiết xử phạt tù bị cáo mà cho bị cáo được hưởng án treo với thời gian thử thách nhất định, giao bị cáo về chính quyền địa phương quản lý, giáo dục cũng đảm bảo mục đích răn đe, giáo dục bị cáo và thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[7] Về trách nhiệm dân sự:

Khi vụ tai nạn xảy ra, bị cáo Nguyễn Thị Kim H đã đến gia đình bị hại thăm hỏi và hỗ trợ bồi thường trước cho gia đình bị hại số tiền 13.000.000 đồng.

Ngoài ra, bị cáo Nguyễn Thị Kim H đã nộp số tiền 30.000.000 đồng vào tài khoản 394901054520 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bắc Bình theo giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 17/4/2024 và nộp số tiền 40.000.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bắc Bình theo biên lai thu tiền số 0003071 ngày 31/5/2024.

Tổng số tiền bị cáo Nguyễn Thị Kim H đã bồi thường là 83.000.000 đồng.

Tại phiên tòa, đại diện hợp pháp của bị hại yêu cầu bị cáo Nguyễn Thị Kim H bồi thường chi phí cứu chữa ông Đ, chi phí mai táng, tiền tổn thất tinh thần, chi phí cấp dưỡng ông Nguyễn T1 với tổng số tiền là 240.000.000 đồng. Bị cáo đồng ý bồi thường số tiền này nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận bồi thường giữa bị cáo và gia đình bị hại nhưng được trừ vào số tiền

83.000.000 đồng mà bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại, như vậy bị cáo còn phải bồi thường số tiền 157.000.000 đồng cho gia đình bị hại.

[8] Về vật chứng:

Sau khi tai nạn xảy ra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã giao trả xe mô tô biển số 86AC-008.62, màu đen, hiệu ESPERO cùng các giấy tờ liên quan cho bà Lê Thị H2; trả lại cho bị cáo Nguyễn Thị Kim H 01 xe mô tô biển số 86B2-621.67, hiệu Honđa Air Blade màu đỏ bạc cùng giấy đăng ký xe là có căn cứ.

[9] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thị Kim H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và chịu 7.850.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Kim H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Kim H 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 08/7/2024).

Giao bị cáo Nguyễn Thị Kim H cho Ủy ban nhân dân thị trấn L, huyện B, tỉnh Bình Thuận để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định.

Căn cứ vào: Điều 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 591, khoản 2 Điều 593, Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận bồi thường giữa bị cáo Nguyễn Thị Kim H và đại diện hợp pháp của bị hại, theo đó bị cáo Nguyễn Thị Kim H bồi thường cho ông Nguyễn T1, bà Lê Thị H2, chị Nguyễn Ngọc Thanh U, anh Nguyễn Lê Anh T2 với số tiền là 240.000.000 đồng nhưng được trừ vào số tiền 83.000.000 đồng mà bị cáo đã bồi thường trước, bị cáo còn phải bồi thường số tiền 157.000.000 đồng cho ông Nguyễn T1, bà Lê Thị H2, chị Nguyễn Ngọc

Thanh U, anh Nguyễn Lê Anh T2, trong đó mỗi đại diện hợp pháp của bị hại được hưởng phần bằng nhau.

Tiếp tục tạm giữ số tiền 30.000.000 đồng mà bị cáo Nguyễn Thị Kim H đã nộp vào tài khoản 394901054520 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bắc Bình theo giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 17/4/2024 và số tiền 40.000.000 đồng mà bị cáo Nguyễn Thị Kim H đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bắc Bình theo biên lai thu tiền số 0003071 ngày 31/5/2024 để bảo đảm thi hành án.

Kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án dân sự, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Căn cứ vào: Điểm a, c khoản 1 Điều 23; Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Thị Kim H phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo Nguyễn Thị Kim H phải nộp 7.850.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bà Lê Thị H2, anh Nguyễn Lê Anh T2 là đại diện hợp pháp của bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (08/7/2024). Ông Nguyễn T1 và chị Nguyễn Ngọc Thanh U là đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ bản án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bình Thuận;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Thuận (trường hợp bản án có hiệu lực pháp luật);
  • - VKSND huyện Bắc Bình;
  • - Công an huyện Bắc Bình;
  • - Chi cục THADS huyện Bắc Bình;
  • - Bị cáo; đại diện bị hại;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án.

9

10

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Đỗ Hoàng Huy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 65/2024/HS-ST ngày 08/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC BÌNH, TỈNH BÌNH THUẬN về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (vụ án hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 65/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Vụ án hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC BÌNH, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger