TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU TỈNH AN GIANG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc |
Bản án số: 65/2024/HS-ST Ngày 07 tháng 8 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thuỳ Dương.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thanh Tuấn và ông Phạm Thế Phương.
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Ngô Tấn Bửu - Thư ký Toà án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu tham gia phiên toà: Ông Huỳnh Hoài Thanh - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 8 năm 2024, tại phòng xử án Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 41/2024/HS-ST ngày 04 tháng 7 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 49/2024/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 7 năm 2024, đối với bị cáo:
Chiêm Văn P, sinh ngày 23 tháng 6 năm 1971, tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký thường trú (chỗ ở hiện nay): Số C, đường L, phường F, quận F, Thành phố Hồ Chí Minh; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Đạo Phật (tu sĩ tại gia); quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: Không; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 3/12; con ông Chiêm Văn V (đã chết) và bà Ngô Thị N (đã chết); chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: tốt; bị cáo tại ngoại (có mặt).
Bị hại: Bà Mai Minh H, sinh năm 1959 (đã chết)
Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Đinh Văn H1, sinh năm 1959; cư trú: Tổ G, ấp H, xã C, thị xã T, tỉnh An Giang (chồng của bị hại Mai Minh H, có mặt);
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Ngô Kim H2, sinh năm 1964; cư trú: Ấp V, xã C, thị xã T, tỉnh An Giang (có mặt);
Người làm chứng: Bà Lê Thị Q và bà Lê Thị P1 (đều vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ ngày 08/3/2024, bị cáo Chiêm Văn P điều khiển xe mô tô biển số kiểm soát 67H1- 134.94 lưu thông trên đường T hướng xã C - xã L, thị xã T, tỉnh An Giang. Khi đến khu vực ấp H, xã C, thị xã T, tỉnh An Giang, không chú ý quan sát, điều khiển xe sát lề đường bên phải, va chạm vào phía sau xe đạp do bị hại Mai Minh H chạy cùng chiều. Hậu quả, bị hại H té ngã, đầu va chạm xuống nền bê tông và tử vong do chấn thương sọ não.
Cơ quan Cảnh sát điều tra đã khởi tố và áp dụng biện pháp ngăn chặn lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với Chiêm Văn P.
Kết luận giám định pháp y tử thi số 60 ngày 09/3/2024 của Trung tâm pháp y – Sở Y: Mai Minh H sinh năm 1959, ấp H, xã C, thị xã T, tỉnh An Giang. Nguyên nhân chết do chấn thương sọ não nặng.
Kết quả khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện, khám nghiệm tử thi phù hợp với nội dung vụ án như đã nêu trên.
Phiếu đo nồng độ cồn ngày 08/3/2024 của Đội Cảnh sát giao thông – Công an thị xã T, ghi nhận: Bị cáo Chiêm Văn P, sinh năm 1971, đường L, phường F, quận F, Thành phố Hồ Chí Minh, có nồng độ cồn 0,000 mg/l.
Lời khai đại diện hợp pháp bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng trình bày như nội dung vụ án đã nêu.
Tang vật thu giữ gồm có:
- - 01 (một) xe ô tô tải biển số 67H1-134.94 cùng Giấy chứng nhận đăng ký xe, (đã trả cho chủ sở hữu).
- - 01 (một) xe đạp màu trắng (đã trả cho đại diện của bị hại).
- - 01 (một) giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Chiêm Văn P (đã trả cho bị cáo).
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 2.000.000 đồng. Hiện, ông Đinh Văn H1 (đại diện bị hại) không yêu cầu bồi thường thêm và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Cáo trạng số: 43/CT-VKSTC-HS ngày 03/7/2024, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu đã truy tố bị cáo Chiêm Văn P về tội "Vi phạm quy định về tham gia thông đường bộ" theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, bị cáo P vẫn khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung đã nêu trên, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Ông Đinh Văn H1 (đại diện hợp pháp của bị hại H) và giữ nguyên lời khai giai đoạn điều tra, do bị cáo P là tu sĩ tại gia, hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên ông H1 không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại thêm và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Ngô Kim H2 giữ nguyên lời khai giai đoạn điều tra, truy tố và không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại về giá trị tài sản bị hư hỏng.
Người làm chứng bà Lê Thị Q và bà Lê Thị P1 vắng mặt nhưng quá trình điều tra đều khai nhận phù hợp với nội dung vụ án.
Phát biểu quan điểm luận tội, Kiểm sát viên giữ quan điểm truy tố bị cáo P về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về hình phạt: đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Chiêm Văn P, từ 01 (một) năm đến 02 (hai) năm tù, nhưng cho bị cáo được hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 02 (hai) năm đến 04 (bốn) năm về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: 01 (một) xe ô tô tải biển số 67H1-134.94 cùng giấy chứng nhận đăng ký xe, (đã trả cho chủ sở hữu); 01 (một) xe đạp màu trắng (đã trả cho đại diện của bị hại); 01 (một) giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Chiêm Văn P (đã trả cho bị cáo) nên không đề cập giải quyết.
Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không đề cập giải quyết.
Trong phần tranh luận, bị cáo đồng ý theo quyết định truy tố và quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát.
Đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên thống nhất theo quyết định truy tố và quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Đại diện hợp pháp của bị hại xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo theo quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát vì sự việc xảy ra là do vô ý và sau khi xảy ra sự việc bị cáo đã tích cực cùng gia đình lo đám tang và các nghi thức tôn giáo khác cho bị hại.
Bị cáo nói lời sau cùng, gửi lời xin lỗi đến gia đình bị hại và xin được Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt, cho hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tụng luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
[1] Về tố tụng: Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa người làm chứng đều vắng mặt. Xét thấy, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[2] Về nội dung: Lời khai nhận của bị cáo Chiêm Văn P tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của đại diện hợp pháp bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng về thời gian, địa điểm xảy ra tội phạm và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:
Vào khoảng 14 giờ ngày 08/3/2024, bị cáo Chiêm Văn P điều khiển xe mô tô biển số kiểm soát 67H1- 134.94 lưu thông trên đường T hướng xã C - xã L, thị xã T, tỉnh An Giang. Khi đến khu vực ấp H, xã C, thị xã T, tỉnh An Giang, không chú ý quan sát, va chạm vào phía sau xe đạp do bị hại Mai Minh H chạy cùng chiều. Hậu quả, bị hại H té ngã, đầu va chạm xuống nền bê tông và tử vong do chấn thương sọ não.
Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc điều khiển xe mô tô, va chạm vào phía sau xe đạp do bị hại Mai Minh H chạy cùng chiều là vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ (vi phạm quy định tại khoản 19, khoản 23 Điều 8 Luật Giao thông đường bộ năm 2008), gây thiệt hại về sức khỏe, tính mạng của người khác nhưng bị cáo vẫn để mặc hậu quả xảy ra, hành vi của bị cáo không những vô ý gây thiệt hại đến tính mạng của bà H mà còn gây ảnh hưởng đến an toàn, trật tự cộng cộng. An toàn giao thông là một trong những nhiệm vụ được Nhà nước và mọi người quan tâm nhằm bảo vệ tính mạng, sức khỏe con người và bảo vệ tài sản. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Cáo trạng số 43/CT-VKSTC ngày 03/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu truy tố bị cáo P về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội và phù hợp với quy định của pháp luật.
[3] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; bị cáo đã bồi thường, khắc phục hậu quả; bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, bị cáo thuộc thành phần lao động, trình độ học vấn thấp nên nhận thức pháp luật có phần hạn chế là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hiện tại trên địa bàn thị xã T các tội phạm về xâm phạm an toàn giao thông có chiều hướng gia tăng, tai nạn giao thông gây tổn hại đến toàn xã hội và gia đình người bị nạn. Bị cáo P điều khiển xe mô tô, thiếu quan sát khiến bà H chết gây ra sự tổn thương về vật chất, lẫn tinh thần gia đình bà H. Tuy nhiên, sau khi gây tai nạn cho bà H phía bị cáo P tích cực cùng gia đình bà H khắc phục hậu quả về vật chất và tinh thần, phần nào bù đắp tổn thương về vật chất và tinh thần cho gia đình bà H. Tại phiên tòa, ông H1 (đại diện hợp pháp của bị hại) xin bãi nại và xin cho bị cáo P được hưởng án treo do sự việc xảy ra là vô ý.
Nhận thấy, bị cáo P có nhiều tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; có nơi cư trú rõ ràng; không có tiền án, tiền sự; nhân thân tốt, bị cáo phạm tội với lỗi vô ý. Do đó, cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa cho bị cáo P hưởng án treo cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo trở thành người lương thiện, người công dân có ích cho xã hội.
Giao bị cáo P cho Ủy ban nhân dân phường F, quận F, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
(Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án Hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo).
[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm. Tuy nhiên, do bị cáo không thuộc đối tượng áp dụng nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[6] Về xử lý vật chứng: 01 (một) xe ô tô tải biển số 67H1-134.94 cùng giấy chứng nhận đăng ký xe, (đã trả cho chủ sở hữu); 01 (một) xe đạp màu trắng (đã trả cho đại diện của bị hại); 01 (một) giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Chiêm Văn P (đã trả cho bị cáo), đã trả lại giai đoạn điều tra nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[7] Về các vấn đề khác: Bị cáo P phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tuyên bố bị cáo Chiêm Văn P phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”;
Xử phạt: Bị cáo Chiêm Văn P 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, cho bị cáo hưởng án treo;
Thời hạn thử thách của bị cáo là 03 (ba) năm, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo P cho Ủy ban nhân dân phường F, quận F, thành phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
(Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án Hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo).
Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Chiêm Văn P phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Căn cứ Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Bị cáo, đại diện hợp pháp bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà Nguyễn Thị Thùy Dương |
7
Bản án số 65/2024/HS-ST ngày 07/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 65/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chiêm Văn P có hành vi gây tai nạn giao thông
