TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 65/2023/HS-ST Ngày: 06 - 12 - 2023 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Trung Hiếu.
Thẩm phán: Ông Mai Văn Hùng Cường.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Hiếu Nhường.
Ông Dương Thị Lệ.
Bà Nguyễn Thị Tưởng.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Sơn – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Dáng Hương – Kiểm sát viên
Ngày 06 tháng 12 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 62/2023/TLST-HS ngày 13 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 66/2023/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 11 năm 2023 đối với:
Bị cáo:
- Trần Văn T; Tên gọi khác: không; sinh ngày 22/01/1994 tại tỉnh Long An;
- Nơi cư trú: ấp A, xã B, huyện M, tỉnh Long An.
- Nghề nghiệp: làm thuê; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 5/12;
- Con ông Trần Văn T1 và bà Trần Thị H;
- Vợ, con: chưa có.
- Tiền án, tiền sự: Không.
Về nhân thân: Từ nhỏ đến lớn, bị cáo sống cùng với gia đình tại ấp A, xã B, huyện M, tỉnh Long An, học đến lớp 5 thì nghỉ học ở nhà phụ giúp gia đình, đi làm thuê cho đến ngày phạm tội.
- Bị cáo Trần Văn T bị tạm giữ từ ngày 15/5/2023, chuyển tạm giam ngày 24/5/2023 cho đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo T: Luật sư Trương Thị Thanh T2 và Dương Thị Kim L - Văn phòng L4 - thuộc Đoàn Luật sư tỉnh T;
Địa chỉ: B ấp H, xã M, thành phố M, tỉnh Tiền Giang
*Bị hại: Hồ Thành L1, sinh năm 1969; (vắng mặt)
Địa chỉ: 4 ấp M, xã M, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.
*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Nguyễn Đăng H1, sinh năm 1977; (vắng mặt)
- Nguyễn Thị L2, sinh năm 1996; (có mặt)
- Trần Văn T1, sinh năm 1973; (có mặt)
- Trần Thị H, sinh năm 1973; (có mặt)
Địa chỉ: số A đường H, khu phố A, phường A, thị xã C, tỉnh Tiền Giang;
Địa chỉ: Số H, ấp L, xã P, huyện G, tỉnh Bến Tre;
Cùng địa chỉ: Ấp A, xã B, huyện M, Long An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do cần tiền tiêu xài cá nhân nên Trần Văn T nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tài sản bằng cách sử dụng giấy tờ giả để thuê xe ô tô tự lái, đem cầm cố lấy tiền. Để thực hiện ý định, khoảng tháng 03/2023, T lên mạng xã hội Facebook đặt mua 01 căn cước công dân; 01 giấy phép lái xe hạng C cùng tên Nguyễn Trung T3, sinh ngày 20/02/1990, nơi thường trú: 866B, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang với số tiền 4.500.000 đồng của 01 người không rõ lai lịch.
Sau khi có giấy tờ giả, ngày 25/3/2023, T đón xe mô tô khách đến cửa hàng mua bán xe mô tô, xe gắn máy cũ “Thành Lợi”, địa chỉ: số B N, khu phố C, thị trấn B, huyện B, tỉnh Long An mua 01 xe mô tô hiệu Novou, biển số 60Y6 -1839 với giá 4.500.000 đồng. T điều khiển xe nêu trên đến điểm cho thuê xe ô tô tự lái Duy Q do ông Hồ Thanh L3, sinh năm 1969, nơi cư trú số D ấp M, xã M, thành phố M, tỉnh Tiền Giang làm chủ, tự xưng tên “Tín”, cung cấp giấy căn cước công dân, giấy phép lái xe hạng C tên Nguyễn Trung T3 để thuê ô tô. Sau khi kiểm tra giấy tờ, đối chiếu hình ảnh trong giấy tờ tên T3 giống với T, ông L3 đồng ý cho T thuê xe ô tô loại Suzuki XL7, biển số 63A-205.34, thời hạn 02 ngày với giá 700.000 đồng/ngày (T trả trước số tiền 1.500.000 đồng), ông L3 giữ của Trường C tên Nguyễn Trung T3, sinh ngày 20/02/1990, nơi thường trú: 866B, T, T, T, Tiền Giang; 01 xe mô tô hiệu Novou, biển số 60Y6-1839; 01 nón bảo hiểm màu xanh có vành phía trước, bên hông có hình ngôi sao 5 cánh màu trắng, đồng thời giao xe ô tô biển số 63A-205.34 kèm giấy chứng nhận đăng ký bảo hiểm, kiểm định xe ô tô cho T.
T điều khiển xe ô tô biển số 63A-205.34 đến quán cà phê (không rõ tên) thuộc địa bàn Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh, liên hệ với các đối tượng (không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể) gỡ định vị trên xe ô tô biển số 63A-205.34 và cầm cố xe với giá 57.000.000 đồng. Nhận được tiền, Trường Đ về huyện B, tỉnh Long An trả nợ cho người tên D và N số tiền 20.000.000 đồng (không xác định họ tên, địa chỉ cụ thể của D và N).
Đến ngày 28/3/2023, T đến cửa hàng M, xe gắn máy cũ “Tuấn H2”, địa chỉ: A Nguyễn Hữu T4, khu phố C, thị trấn B, huyện B, tỉnh Long An mua 01 xe mô tô hiệu Exciter biển số 62L1-920.14 với giá 37.000.000 đồng và trực tiếp sử dụng xe làm phương tiện đi lại cho đến khi bị Cơ quan công an tỉnh T bắt giữ.
Nhờ các mối quan hệ quen biết, ông Nguyễn Đăng H1 - chủ sở hữu xe ô tô loại Suzuki XL7 biển số 63A-205.34 tìm thấy xe tại huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh và điều khiển xe về giao nộp cho Cơ quan công an thành phố M, tỉnh Tiền Giang vào ngày 07/4/2023.
Biên bản khám nghiệm hiện trường do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T lập lúc 14 giờ 45 phút ngày 15/8/2023 ghi nhận:
Hiện trường vụ án xảy ra tại điểm cho thuê xe tự lái Duy Quý thuộc số 42 Ấp B, Phường A, thành phố M, tỉnh Tiền Giang – nằm trong khuôn viên của Bến xe T có cửa quay về hướng B, chia làm 02 khu vực (khu vực quầy bán nước, phòng nghỉ nằm ở hướng Đ; khu vực để xe ô tô, xe gắn máy nằm ở hướng Tây). Tại vị trí phía trước điểm cho thuê xe, cách quầy bán nước giải khát về hướng T 6,5m là vị trí để xe ô tô biển kiểm soát 63A-205.34 (vị trí số 1). Cách vị trí để xe ô tô về hướng Nam 06m và cách quầy bán nước giải khát về hướng Tây 4,5m là vị trí dựng xe mô tô hiệu Nouvo biển số 60Y6-1839 (vị trí số 2). Mở rộng hiện trường, không ghi nhận gì thêm.
Theo các bản kết luận giám định số: 653/KL-KTHS (Đ2) ngày 19/4/2023 và số: 1033/KL-KTHS (Đ2) ngày 09/6/2023 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: thẻ căn cước công dân số [...], họ tên Nguyễn Trung T3, sinh ngày 20/02/1990, giới tính N1, Quốc tịch Việt Nam, Quê quán Tiền Giang, nơi thường trú số 866B Tân Lập 1, T, T, Tiền Giang, ngày cấp 11/11/2018 là thẻ căn cước giả; thẻ căn cước công dân số [...], họ tên Nguyễn Trung T3, sinh ngày 22/01/1990, giới tính Nam, Quốc tịch Việt Nam, nơi thường trú ấp A, 324, A, B, TP., cấp ngày 16/7/2019 là căn cước công dân giả; Giấy phép lái xe số [...] tên Nguyễn Trung T3, sinh ngày 20/02/1990, nơi cư trú 866B, T, X, T, huyện T, tỉnh Tiền Giang cấp ngày 15/10/2019 là Giấy phép lái xe giả.
*Bản Kết luận định giá tài sản số 317/KL-HĐĐGTS ngày 10/4/2023 của Hội đồng Định giá tài sản thành phố M xác định: xe ô tô loại Suzuki XL7 biển số 63A-205.34 có giá trị 567.900.000 đồng.
* Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Quá trình điều tra, bị cáo Trần Văn Trường có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại số tiền 13.000.000 đồng và tự nguyện giao nộp số tiền thu lợi bất chính 20.000.000 đồng.
* Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
* Vật chứng thu giữ trong vụ án gồm:
Thu giữ của Trần Văn T tại nơi cư trú của Nguyễn Thị L2 (bạn gái T), địa chỉ số H ấp L, xã P, huyện G, tỉnh Bến Tre gồm:
- 01 ba lô bằng vải màu đỏ đen.
- 01 áo sơ mi nam ngắn tay màu xanh trắng, trước ngực áo có thêu chữ "MatsonDe".
- 01 quần tây nam màu đen, túi quần phía sau có sọc màu đỏ.
- 01 quần tây nam màu đen, túi trong được may bằng vải sọc màu trắng đen.
- 01 đồng hồ đeo tay dây da màu nâu, vỏ máy màu vàng, mặt sau đồng hồ có chữ “Seiko Premier".
- 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng, mặt sau màu xanh trắng có chữ Oppo, số I: 867397051350090 trong khay sim điện thoại có sim màu trắng, trên sim có dãy số 8401220992048071.
- 01 ví da nam màu đen, mặt trước có in chữ “Sword Sman” màu trắng.
- Hợp đồng mua bán xe của cửa hàng xe máy Tuấn H2 bán xe biển số 62L1 - 920.14 cho Trần Văn T.
- 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô xe gắn máy biển số 62L1 - 920.14.
- 01 thẻ ATM S tên Trần Văn T, số I.
- 01 căn cước công dân số [...] tên Nguyễn Trung T3, sinh ngày 22/01/1990, Giới tính: Nam, Quốc tịch: Việt Nam, Quê quán: B, TP ., Nơi thường trú: Ấp A, C A, B, TP ., ngày cấp 16/7/2019.
- 01 giấy phép lái xe hạng C số [...], tên Nguyễn Trung T3, sinh ngày 20/02/1990, Quốc tịch: Việt Nam, Nơi cư trú: 866B, T, X. T, H. T, T. Tiền G, ngày cấp 15/10/2019.
- 01 hồ sơ lái xe và chứng chỉ sơ cấp lái xe ô tô hạng C-K141 do trường dạy nghề tư thục lái xe thống nhất cấp cho Trần Văn T.
- 02 bản hợp đồng ủy quyền ngày 01/11/2022 liên quan đến xe biển số 62L1 - 920.14.
- 02 bản hợp đồng ủy quyền ngày 17/4/2023 liên quan đến xe biển số 62L1 - 920.14 bán cho Trần Văn T.
Bị cáo Trần Văn T giao nộp
01 xe mô tô hiệu Exciter màu xanh biển số 62L1-920.14.
Ông Nguyễn Đăng H1 giao nộp:
01 xe ô tô nhãn hiệu SUZUKI, số loại XL7 GLX AT, màu sơn: xám, biển số 63A - 205.34, số máy: K15BT1406451; số khung: MHYAN C22SNJ920528. Ngày 13/4/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T đã giao trả xe ô tô nêu trên cho ông Nguyễn Đăng H1.
Ông Hồ Thanh L3 giao nộp:
- 01 căn cước công dân số [...] mang tên Nguyễn Trung T3, sinh ngày 20/02/1990, nơi thường trú: 866B, T, T, T, Tiền Giang;
- 01 xe gắn máy hai bánh hiệu Novou màu đen, biển số 60Y6-1839;
- 01 nón bảo hiểm màu xanh có vành phía trước, bên hông có hình ngôi sao 5 cánh màu trắng.
Bà Trần Thị H, sinh năm 1973, cư trú ấp A, xã B, huyện M, tỉnh Long An (mẹ của bị cáo Trần Văn T) tự nguyện giao nộp:
Số tiền 33.000.000 đồng (trong đó 13.000.000 đồng bồi thường cho bị hại; 20.000.000 đồng là tiền mà T đã thu lợi bất chính).
* Về trách nhiệm dân sự: Ông Nguyễn Đăng H1 yêu cầu bị cáo bồi thường 13.000.000 đồng (bánh xe dự phòng của xe ô tô nhãn hiệu SUZUKI XL7, biển số 63A - 205.34 bị mất). Ngày 31/5/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T đã giao trả số tiền 13.000.000 đồng do gia đình bị cáo Trần Văn T khắc phục thiệt hại cho ông Nguyễn Đăng H1; người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bồi thường thêm.
Tại bản cáo trạng số 46/CT-VKSTG-P2 ngày 09 tháng 10 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang truy tố bị cáo Trần Văn T, về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 và điểm b, c khoản 3 Điều 341 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố bị cáo về tội danh, điều luật, đồng thời phân tích, đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, c khoản 3, điều 341; điểm b, s, khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung 2017 xử phạt bị cáo từ 12 đến 13 năm tù về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản; từ 03 đến 04 năm tù về tội sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức.
- Về xử lý vật chứng, đề nghị lưu vào hồ sơ các loại giấy tờ được xác định là giả, các loại giấy tờ có liên quan làm căn cứ chứng minh hành vi phạm tội; Hoàn trả lại các loại tài liệu, tài sản cho chủ sở hữu người quản lý hợp pháp và tịch thu tiêu hủy, sung công quỷ tài sản là tang vật trong vụ án theo quy định của pháp luật.
- Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, gia đình của bị cáo đã giao nộp và thống nhất với bị cáo bồi thường thiệt hại cho bị hại, không có ai có yêu cầu gì khác nên đề nghị không cần phải xem xét.
* Luật sư bào chữa cho bị cáo phát biểu và đề nghị:
Luật sư Dương Thị Kim L: tại phiên tòa bị cáo Trần Văn T thừa nhận hành vi phạm tội của bản thân, lời nhận tội phù hợp với nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang. Luật sư không có ý kiến gì về tội danh đã truy tố đối với bị cáo. Về thái độ của bị cáo cho thấy, sau khi vụ việc bị phát hiện bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ rõ thái độ ăn năn hối cãi. Đã tác động cùng gia đình bồi thường khắc phục hậu quả. Mặt khác, theo Luật sư bị cáo phạm tội do nhận thức pháp luật kém, có hoàn cảnh khó khăn do thiếu nợ nên có hành vi phạm pháp. Do tài sản có giá trị lớn nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo khung hình phạt mà pháp luật quy định. Thực tế bị cáo chỉ cầm cố xe lấy số tiền tương đương để trả nợ. Với hành vi, hậu quả như trên cùng với hoàn cảnh cũng như các tình tiết giảm nhẹ mà bị cáo được hưởng. Luật sư đề nghị khoan hồng giảm nhẹ cho bị cáo.
Luật sư Trương Thị Thanh T2 thống nhất với lời bào chữa của Luật sư Kim L và không có ý kiến gì khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Đối với bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt dù đã được tống đạt hợp lệ giấy triệu tập. Xét thấy qua lời trình bày trong quá trình điều tra, quyền lợi của họ đã được đảm bảo, không có nghĩa vụ phải thực hiện và không có yêu cầu gì khác. Việc vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án.
[2] Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như sau: Do cần tiền tiêu xài cá nhân nên khoảng tháng 3 năm 2023, Trần Văn T đặt mua trên mạng xã hội (của người không rõ họ tên, địa chỉ) 01 bộ tài liệu giả gồm 01 căn cước công dân và 01 giấy phép lái xe hạng C tên Nguyễn Trung T3, sinh ngày 20/02/1990, nơi thường trú: 866B, T, T, T, Tiền Giang với số tiền 4.500.000 đồng. Ngày 23/5/2023, T đến điểm cho thuê xe Duy Quý ở số D Ấp B, Phường A, thành phố M, tỉnh Tiền Giang đưa căn cước công dân và giấy phép lái xe hạng C giả thuê của ông Hồ Thanh L3 01 xe ô tô nhãn hiệu SUZUKI XL7, biển số 63A - 205.34 trị giá 576.900.000 đồng. T điều khiển đến Thành phố Hồ Chí Minh cầm cố lấy 57.000.000 đồng để tiêu xài cá nhân. Do đó, Trần Văn T phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và tội Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang truy tố bị cáo Trần Văn T về tội Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức và tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Mức đề nghị hình phạt là phù hợp với hành vi bị cáo đã thực hiện.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự quản lý hành chính của Nhà nước, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của cơ quan tổ chức, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo nhận thức được Giấy phép lái xe, căn cước công dân là do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp theo trình tự thủ tục do pháp luật quy định. Do mục đích vụ lợi bị cáo đã thuê người khác làm giả giấy này và thực hiện thủ đoạn gian dối làm cho người khác tưởng đây là giấy tờ thật để giao dịch giao tài sản, hành vi này là vi phạm pháp luật nên phải được xử lý nghiêm. Bị cáo phạm tội vì động cơ tham lam, tư lợi. Do vậy, cân xử phạt bị cáo mức án tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội đã thực hiện căn cứ vào tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo đủ để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
[3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tác động gia đình và thống nhất bồi thường thiệt hại cho bị hại bị cáo hoàn trả tiền cho hai bị hại, khắc phục toàn bộ hậu quả xãy ra do đó bị cáo được hưởng tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Bị cáo cùng một lần bị xét xử về hai tội nên áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự quyết định hình phạt.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị cáo chiếm đoạt đã được hoàn trả toàn bộ cho bị hại và bị hại cũng không có yêu cầu gì khác. Do vậy Hội đồng xét xử không đặt vấn đề giả quyết.
[7] Về xử lý vật chứng:
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[11] Xét ý kiến đề nghị của luật sư bào chữa cho bị cáo Hội đồng xét xử có xem xét khi nghị án.
[12] Xét Đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng hình phạt đối với bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ phạm pháp, cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ theo quy định của pháp luật nên được chấp nhận.
[13] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án;
Bởi các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “tội Sử dụng tài liệu giả cửa cơ quan, tổ chức”
Áp dụng điểm a, khoản 4, Điều 174; điểm b, c khoản 3, Điều 341; điểm b, s khoản 1, Điều 51; Điều 38, 50, 55 Bộ luật Hình sự
Xử phạt bị cáo Trần Văn T 12 (mười hai) năm tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và 03 (Ba) năm tù về tội Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức. Tổng hợp hình phạt, bị cáo chịu hình phạt chung cho cả hai tội là 15 (mười lăm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/5/2023.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
Lưu vào hồ sơ vụ án:
- 01 căn cước công dân số [...] tên Nguyễn Trung T3, sinh ngày 22/01/1990, Giới tính: Nam, Quốc tịch: Việt Nam, Quê quán: B, TP ., Nơi thường trú: Ấp A, C A, B, TP ., ngày cấp 16/7/2019.
- 01 giấy phép lái xe hạng C số [...], tên Nguyễn Trung T3, sinh ngày 20/02/1990, Quốc tịch: Việt Nam, Nơi cư trú: 866B, T, X. T, H. T, T. Tiền G, ngày cấp 15/10/2019.
- 02 bản hợp đồng ủy quyền ngày 01/11/2022 liên quan đến xe biển số 62L1 - 920.14.
- 02 bản hợp đồng ủy quyền ngày 17/4/2023 liên quan đến xe biển số 62L1 - 920.14 bán cho Trần Văn T.
- 01 Giấy căn cước công dân số [...] mang tên Nguyễn Trung T3, sinh ngày 20/02/1990, nơi thường trú: 866B, T, T, T, Tiền Giang;
- Hợp đồng mua bán xe của cửa hàng xe máy Tuấn H2 bán xe biển số 62L1 - 920.14 cho Trần Văn T.
- 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô xe gắn máy biển số 62L1 - 920.14.
Đối với các loại giấy tờ nêu trên là tài liệu có liên quan trong vụ án nên tiếp tục lưu giữ vào hồ sơ vụ án.
Tịch thu sung công quỹ: 01 chiếc xe mô tô hiệu Exciter màu xanh biển số 62L1-920.14, số máu GM3M5E124005, số khung không xác định do không mở được cốp xe, xe đã qua sử dụng không kiểm tra trình trạng bên trong máy;
- 01 xe gắn máy hai bánh hiệu Novou màu đen, biển số 60Y6-1839; số máy: 22S2005845, số khung không xác định do không mở được cốp xe, xe đã qua sử dụng không kiểm tra trình trạng bên trong máy;
- 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng, mặt sau màu xanh trắng có chữ Oppo, số I: 867397051350090 trong khay sim điện thoại có sim màu trắng, trên sim có dãy số 8401220992048071;
- Tiền Việt Nam: 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) là tiền mà T đã thu lựi bất chính ( do gia đình bị cáo tự nguyện giao nộp) theo BL thu số 0000354 ngày 13/10/2023 của Cục THADS tỉnh T ( LCC ngày 13/10/2023 của CATG).
Hoàn trả lại cho bị cáo Trần Văn T các loại giấy tờ và tài sản như:
- 01 ba lô bằng vải màu đỏ đen.
- 01 áo sơ mi nam ngắn tay màu xanh trắng, trước ngực áo có thêu chữ "MatsonDe".
- 01 quần tây nam màu đen, túi quần phía sau có sọc màu đỏ.
- 01 quần tây nam màu đen, túi trong được may bằng vải sọc màu trắng đen.
- 01 đồng hồ đeo tay dây da màu nâu, vỏ máy màu vàng, mặt sau đồng hồ có chữ “Seiko Premier”.
- 01 ví da nam màu đen, mặt trước có in chữ “Sword Sman” màu trắng.
- 01 thẻ ATM S tên Trần Văn T, số I
- 01 hồ sơ lái xe và chứng chỉ sơ cấp lái xe ô tô hạng C-K141 do trường dạy nghề tư thục lái xe thống nhất cấp cho Trần Văn T.
- 01 nón bảo hiểm màu xanh có vành phía trước, bên hông có hình ngôi sao 5 cánh màu trắng.
3. Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Bị cáo Trần Văn T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được giao hoặc niêm yết hợp lệ bản án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Trung Hiếu |
Bản án số 65/2023/HS-ST ngày 06/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG về lừa đảo chiếm đoạt tài sản; sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
- Số bản án: 65/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản; Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Do cần tiền tiêu xài cá nhân nên khoảng tháng 3 năm 2023, Trần Văn T đặt mua trên mạng xã hội (của người không rõ họ tên, địa chỉ) 01 bộ tài liệu giả gồm 01 căn cước công dân và 01 giấy phép lái xe hạng C tên Nguyễn Trung T3, sinh ngày 20/02/1990, nơi thường trú: 866B, T, T, T, Tiền Giang với số tiền 4.500.000 đồng. Ngày 23/5/2023, T đến điểm cho thuê xe Duy Quý ở số D Ấp B, Phường A, thành phố M, tỉnh Tiền Giang đưa căn cước công dân và giấy phép lái xe hạng C giả thuê của ông Hồ Thanh L3 01 xe ô tô nhãn hiệu SUZUKI XL7, biển số 63A - 205.34 trị giá 576.900.000 đồng. T điều khiển đến Thành phố Hồ Chí Minh cầm cố lấy 57.000.000 đồng để tiêu xài cá nhân. Do đó, Trần Văn T phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và tội Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”
