|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 65/2024/HNGĐ-ST Ngày: 06-8-2024 “V/v Tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Chau Dau.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Mai Văn Tài.
- Bà Châu Thanh Nguyên.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Kim Liệu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn tham gia phiên toà: Bà Trầm Ngọc Minh Thư– Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 207/2024/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 6 năm 2024 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 122/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Đinh Thị T, sinh năm 1969; địa chỉ: Tổ A, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh An Giang, có mặt.
Bị đơn: Ông Lê Văn Bé N, sinh năm 1968; địa chỉ: Tổ A, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh An Giang, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 08/5/2024 và quá trình tố tụng, cũng như tại phiên tòa nguyên đơn bà Đinh Thị T trình bày:
Về hôn nhân: Trước khi bà T và ông N đến với nhau hai bên đều đã có chồng, vợ và con riêng. Năm 2010, chồng bà T đã chết, từ trước khi chồng chết, bà T thường xuyên đi Sài G và có quen biết ông N. Ông N khi đó là tài xế lái xe khách Hiệp T1 chạy tuyến đường T - S, do bà T và ông N thường xuyên gặp gỡ nên quen biết và có tình cảm với nhau, khi gặp gỡ quen nhau ông N cho biết ông N đã ly hôn với vợ nên đến năm 2013 bà T và ông N thống nhất về chung sống với nhau như vợ chồng. Trước khi tổ chức lễ cưới bà T có về quê ông N tìm hiểu, được mẹ ruột của ông N và anh em trong nhà xác nhận ông N đã ly hôn với vợ trước và mọi người trong gia đình ông N rất đồng tình và ủng hộ cuộc hôn nhân giữa bà T và ông N, lễ cưới được tổ chức chu đáo nhưng không đăng ký kết hôn. Sau thời gian chung sống thì bà T mới phát hiện ông N chưa ly hôn với vợ trước nên đã xảy ra mâu thuẩn bà T dọn đồ đạc, vật dụng của ông N giao trả cho ông N tại nhà mẹ ruột của ông N. Sự việc đổ bể gia đình ông N vẫn tiếp tục động viên bà T tiếp tục sống với ông N và sau này ông N mới ly hôn với vợ trước và đến năm 2015 thì bà T, ông N mới đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T, tỉnh An Giang. Quá trình chung sống sau khi kết hôn bà T giao cho ông N công việc lái xe chở hàng, ghi toa và giao hàng cho các mối, bà T trả lương cho ông N sòng phẳng từng ngày không thiếu ngày nào. Sau này, bà T phát hiện ông N ăn chặn tiền của khách hàng trả mà không giao lại cho bà T, khi bà T hỏi thì ông N viện hết lý do này đến lý do khác. C sống với nhau mà ông N thái độ gia trưởng, cư xử rất thô lỗ, cộc cằn trước mặt các con của bà T, ông N thường xuyên kiếm chuyện dùng lời lẽ thô tục, chửi bới, nhục mạ bà T, nhiều lần có hành vi bạo lực gây thương tích cho bà T, bà T nhiều lần nhờ Công an xã T giải quyết.Ngoài ra, khoảng hơn 01 năm nay bà T phát hiện ông N có quan hệ bất chính với người đàn bà khác, lấy tiền của bà T đánh số đề, bao lô, nuôi gái và bỏ bê công việc mà bà đã giao, từ đó làm ảnh hưởng đến việc kinh doanh của bà T. Cho nên ngày 19/4/2022, bà T có khởi kiện yêu cầu ly hôn đối với ông N, quá trình giải quyết ông N năn nỉ bà T và hứa sẽ sửa đổi những việc sai trái trên nên bà T chấp nhận và đã rút yêu cầu khởi kiện. Sau đó, ông N về sống với bà T không được bao lâu, ông N vẫn chừng nào tật nấy vẫn tiếp tục ăn chặn tiền bán hàng của bà T. Hiện nay bà T2 và ông N sống ly thân. Nay bà T nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa, hôn nhân không thể tiếp tục nên bà T yêu cầu xin được ly hôn đối với ông Lê Văn Bé N.
Ông N đề nghị bà T hỗ trợ 300.000.000 đồng và một chiếc xe honda để làm vốn kinh doanh, bà T không đồng ý.
Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Không có, nên không yêu cầu Toà án giải quyết
Bị đơn ông Lê Văn Bé N trình bày:
Về hôn nhân: Ông N thống nhất về thời gian điều kiện đi đến xác lập quan hệ hôn nhân như bà T đã trình bày; Còn về nguyên nhân dẫn đến mâu thuẩn mà bà T trình bày là không đúng sự thật. Tuy nhiên, ông N thừa nhận qua quá trình chung sống vợ chồng luôn xảy ra mâu thuẩn và không thể hàn gắn được. Ông nhận thấy cuộc hôn nhân giữa ông và bà T không thể nào mang lại hạnh phúc cho nhau nên ông cũng chấp nhận ly hôn với bà Đinh Thị T.
Về tài sản chung: Ông N không yêu cầu Toà án giải nhưng ông đề nghị bà T hỗ trợ cho ông 300.000.000 đồng và 01 (một) chiếc xe honda để ông có vốn kinh doanh.
Quá trình tố tụng ông có nộp đơn yêu cầu phản tố chia tài sản khi ly hôn đề ngày 20/6/2024 cho Toà án. Vào ngày 08/7/2024, ông nhận được thông báo nộp tiền tạm ứng án phí của Toà án và đến nay đã hết thời hạn nộp tiền. Bởi vì, không có tiền để nộp nên ông N từ bỏ việc yêu cầu phản tố về yêu cầu chia tài sản khi ly hôn.
Về nợ chung: Không có nên ông không yêu cầu Toà án giải quyết.
* Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại Điều 35, Điều 68 và Điều 97 của Bộ luật tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử đã tuân thủ theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Các đương sự đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa được quy định tại Điều 70, Điều 71 và Điều 72 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dụng vụ án: Về hôn nhân đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T đối với ông Bé N; Về con chung: Không có nên không xem xét; về tài sản chung: Bà T không yêu cầu giải quyết, mặc dù ông N có đơn yêu cầu phản tố chia tài sản chung nhưng Toà án có thông báo nộp tiền tạm ứng án phí thì ông N không nộp, do vậy Toà án không thụ lý nên không đặt ra xem xét; về nợ chung: Không có, không yêu cầu nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn bà T khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn ông N, tranh chấp giữa các đương sự về tranh chấp ly hôn; bị đơn có địa chỉ cư trú tại địa bàn huyện T nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về nội dung vụ án: Bà T, ông N tự nguyện đi đến xác lập quan hệ hôn nhân và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh An Giang theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số: 88/2015, ngày 26/11/2015 là phù hợp theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông N là hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật bảo vệ.
Xét yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà T đối với và ông N, bà T cho rằng nguyên nhân dẫn đến vợ chồng mâu thuẩn do ông N không trung thực, cờ bạc, sống gia trưởng, dùng lời lẽ thô tục, nhục mạ và đã nhiều có hành bạo lực đối với bà T nên bà T nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc hôn nhân không thể kéo dài nên bà T yêu cầu ly hôn đối với ông N. Ông N cho rằng nguyên nhân mâu thuẩn mà bà T trình bày không đúng sự thật. Tuy nhiên, ông N thừa nhận qua quá trình chung sống vợ chồng luôn xảy ra mâu thuẩn và không thể hàn gắn được nên ông N nhận thấy cuộc hôn nhân giữa ông N và bà T không thể nào mang lại hạnh phúc cho nhau nên ông N cũng chấp nhận ly hôn với bà T.
Quá trình giải quyết vụ án Toà án có tiến hành xác minh và cho thấy ông N có hành vi bạo lực với bà T và đã được Công an xã T mời lên làm việc, động viên, hoà giải.
Hội đồng xét xử nhận định hôn nhân giữa bà T và ông N lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được cho nên bà T yêu câu ly hôn đối với ông N và được ông N đồng ý. Từ đó, Hội xét xử xét xét thấy yêu cầu ly hôn của bà T là có cơ sở nên chấp nhận.
[3] Về tài sản chung: Bà T, ông Bé N không yêu cầu nên không xem xét.
Xét về việc ông N đề nghị bà T hỗ trợ số tiền 300.000.000 đồng và 01 chiếc honda để làm vốn kinh doanh, đề nghị này không được bà T chấp nhận nên Hội đồng xét xử không có cơ sở để xem xét.
Xét về việc yêu cầu phản tố đơn đề ngày 20/6/2024 về yêu cầu chia tài sản chung khi ly hôn. Toà án đã tống đạt hợp lệ thông báo nộp tiền tạm ứng án phí cho ông N nhưng hết thời hạn ông N không nộp biên lai thu tiền tạm ứng án phí nên Toà án không có cơ sở để xem xét yêu cầu phản tố.
[4] Về nợ chung: Không có, không yêu cầu nên không xem xét.
[5] Về án phí: Bà T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 266, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà Đinh Thị T đối với ông Lê Văn Bé N.
- Về án phí: Bà Đinh Thị T phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu số 0012504 ngày 08 tháng 5 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Chau Dau |
Bản án số 65/2024/HNGĐ-ST ngày 06/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 65/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận cho ly hôn
