Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TAM ĐẢO

TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 65/2024/HS-ST

Ngày 06 - 8 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐẢO, TỈNH VĨNH PHÚC

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Xuân Ngọc và bà Trần Thị Bích Hằng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Ánh Tuyết, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tam Đảo.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đảo tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thùy Linh, Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 8 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc; địa chỉ: K, thị trấn H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số: 54/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 62/2024/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Lê Văn H, Sinh ngày: 24/02/1984; Nơi cư trú: thôn V, xã S, huyện S, tỉnh Tuyên Quang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Hồng C và bà Kim Thị T; có vợ Bàng Thị T1, sinh năm 1987 (Đã ly hôn); Con: có 02 con ( con lớn SN 2012, con nhỏ SN 2015).

Tiền án: 01. Tại bản án số 86/2005/HSPT ngày 24/11/2005 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xử Lê Văn H 05 năm tù về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” quy định tại điểm a,c Khoản 2 Điều 202 BLHS 1999. H đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 31/8/2009. Đối với phần án phí hình sự sơ thẩm, hình sự phúc thẩm và án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch H được miễn chấp hành theo quyết định miễn nghĩa vụ thi hành án số 24/QĐ-THA ngày 05/8/2016 của TAND huyện Sơn Dương. Đối với nghĩa vụ bồi thường cho gia đình bị hại, H chưa thực hiện được. Kết quả làm việc với bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1947 ở TDP T, phường K, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc, bà L yêu cầu H phải tiếp tục bồi thường cho bà theo quy định. Do vậy H hiện chưa được xóa án tích đối với bản án trên.

Tiền sự: không.

Nhân thân: Năm 2010, H bị Công an quận L, TP Hà Nội ra quyết định xử lý vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản, mức phạt 1.500.000đ, ngày 14/01/2011 bị cáo đã chấp hành xong.

Năm 2017, H bị Công an huyện G, TP Hà Nội ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi xâm hại sức khỏe người khác, mức phạt 2.500.000đ, qua xác minh bị cáo H chưa chấp hành và Công an huyện G không có văn bản đôn đốc H nộp phạt. Đến nay đã hết thời hiệu thi hành đối với Quyết định trên.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ 03/4/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh V, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 03/4/2024 tại khu vực thôn Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, tổ công tác Công an huyện T đang làm nhiệm vụ thấy Lê Văn H, sinh năm 1984, ở thôn V, xã S, huyện S, tỉnh Tuyên Quang có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra, phát hiện H đang tàng trữ trái phép chất ma túy. Cơ quan công an đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ các vật chứng gồm: T1 tại lòng bàn tay phải của H 01 vỏ bao thuốc lá T, bên trong có 01 gói nilon màu hồng bọc ngoài 02 lớp giấy màu trắng chứa chất cục bột màu trắng – H khai là ma túy Heroine mua để sử dụng nhưng chưa kịp sử dụng thì bị bắt quả tang, được niêm phong ký hiệu M1; thu tại túi quần phía trước bên trái của H 01 chiếc xilanh nhựa màu trắng loại 3ml/cc; thu tại túi áo phía trước bên phải H đang mặc 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu đen đã cũ, qua sử dụng.

Cùng ngày, Cơ quan CSĐT Công an huyện T ra Quyết định trưng cầu giám định số 446 trưng cầu Phòng K - Công an tỉnh V giám định đối với mẫu ký hiệu M1. Tại bản Kết luận giám định số 955/KLGĐ ngày 07/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh V, kết luận: “Chất cục bột của mẫu ký hiệu M1 gửi giám định là ma túy, loại Heroine, có khối lượng 0,2706 gam (không phảy hai bảy không sáu gam, không kể bao bì)”.

Hoàn trả trực tiếp cho cơ quan trưng cầu M1 = 0,2323 gam mẫu và toàn bộ bao gói.

Về nguồn gốc gói ma túy, Lê Văn H khai nhận: Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 03/4/2024, H đang ở nhà ở thôn V, xã S, huyện S, tỉnh Tuyên Quang thì có nam thanh niên tên Q (là bạn nghiện ngoài xã hội của H) đến chơi, quá trình nói chuyên Q rủ H đi chơi và sử dụng ma túy cùng, H đồng ý. Quậy điều khiển xe chở H đến đoạn đường ngõ bê tông thuộc thôn Đ, xã Đ, huyện T thì dừng xe và bảo H xuống xe đi bộ vào gần bụi chuối cách đó khoảng 10m nhặt vỏ bao thuốc lá Thăng Long bên trong có chứa ma túy để sử dụng. Sau khi nhặt, H cầm gói ma túy ở tay phải thì bị Công an kiểm tra, bắt quả tang.

Đối với người thanh niên tên Q, do H không biết rõ nhân thân, lai lịch cụ thể, không nhớ BKS. Ngoài lời khai của H không có tài liệu, chứng cứ nào khác. Căn cứ theo lời khai của H về đặc điểm nhận dạng của người này, Cơ quan điều tra đã phối hợp với Công an xã T, huyện S, Tuyên Quang tiến hành rà soát, xác minh trên địa bàn nhưng không có người nào tên Q có đặc điểm nhận dạng như H đã mô tả. Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, nếu có căn cứ xử lý sau.

Về xử lý vật chứng:

Đối với 0,2323 gam mẫu cùng toàn bộ bao gói do Cơ quan giám định hoàn lại sau giám định; 01 xilanh nhựa màu trắng loại 3ml/cc H mang theo để sử dụng ma túy cần tịch thu tiêu hủy theo quy định của pháp luật.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu đen đã cũ, qua sử dụng, quá trình điều tra xác định là tài sản của Lê Văn H, không sử dụng vào việc phạm tội, cần trả lại tài sản cho bị cáo nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Tại Bản cáo trạng số: 62/CT-VKSTĐ ngày 10/7/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc đã truy tố Lê Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Kiểm sát viên luận tội: Giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung Bản cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo: Lê Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, phạt Lê Văn H từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo; đề nghị xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.

Bị cáo Lê Văn H thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã nêu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Quá trình điều tra và tại phiên tòa Lê Văn H thừa nhận toàn bộ hành vi của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố, thể hiện như sau:

Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 03/4/2024, tại khu vực thôn Đ, xã Đ, huyện T, Lê Văn H bị bắt quả tang đang tàng trữ trái phép 01 gói nilon màu hồng đựng trong vỏ bao thuốc lá Thăng L1, bên trong gói này chứa 01 gói giấy màu trắng chứa chất cục bột màu trắng, qua giám định xác định có khối lượng 0,2706g, loại ma túy Heroine, mục đích để sử dụng cho bản thân.

[3] Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với vật chứng thu giữ, kết luận giám định và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án mà cơ quan điều tra đã thu thập được. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, “1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: ... c) Heroine ... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”. Do đó, Bản cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[4] Xét về nhân thân của bị cáo có nhân thân xấu đã bị xử phạt VPHC về hành vi Trộm cắp tài sản và hành vi xâm phạm sức khỏe của người khác mặc dù đã được coi là không có tiền sự, bị cáo có 01 tiền án chưa được xóa án tích về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” .

Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với chất ma tuý, gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội. Ma tuý là một tệ nạn cần phải loại bỏ ra khỏi đời sống xã hội, làm ảnh hưởng đến sức khoẻ của con người, sói mòn đạo đức, thuần phong mỹ tục của dân tộc và là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm nguy hiểm khác. Bản thân bị cáo là đối tượng nghiện ma túy nhưng không chịu rèn luyện, tu dưỡng bản thân.

Hội đồng xét xử xét thấy khi lượng hình xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nhưng cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo bị cáo trở thành người công dân lương thiện, sống có ích cho gia đình và xã hội và đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung.

[5] Về tình tiết tăng nặng: Tại bản án số 86/2005/HSPT ngày 24/11/2005 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc. Đối với nghĩa vụ bồi thường cho gia đình bị hại, bà L đã có đơn gửi cơ quan thi hành án yêu cầu H phải bồi thường. Đến nay H chưa bồi thường và bà bà L yêu cầu H phải tiếp tục bồi thường cho bà theo quy định. Do vậy H hiện chưa được xóa án tích đối với bản án trên nên phải chịu tình tiết tăng nặng TNHS quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS.

[6] Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[7] Về áp dụng hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, tài sản nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[8] Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy mẫu vật do Cơ quan giám định hoàn lại sau giám định là 0,1687 gam mẫu cùng toàn bộ bao gói và 01 xilanh nhựa màu trắng.

Trả lại cho bị cáo H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu đen đã cũ, nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

[9] Về án phí: Bị cáo Lê Văn H phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  2. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt: Bị cáo Lê Văn H 02 (hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 03/4/2024).

  3. Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

    Tịch thu tiêu hủy: Toàn bộ mẫu vật sau giám định do Phòng K Công an tỉnh V hoàn lại sau giám định 0,2323 gam gam mẫu cùng toàn bộ bao gói và 01 xilanh nhựa màu trắng.

    Trả lại cho bị cáo H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu đen đã cũ, nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

    (Các vật chứng trên có đặc điểm như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/8/2024).

  4. Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội: Buộc Lê Văn H phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để yêu cầu xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - Trại TGCA tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - VKSND tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - VKSND huyện Tam Đảo;
  • - Chi cục THADS huyện Tam Đảo;
  • - Công an huyện Tam Đảo;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu VP, HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Hồng Hạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 65/2024/HS-ST ngày 06/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐẢO, TỈNH VĨNH PHÚC về hình sự sơ thẩm (tàng trữ trái phép chất ma tuý)

  • Số bản án: 65/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự Sơ thẩm (Tàng trữ trái phép chất ma tuý)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐẢO, TỈNH VĨNH PHÚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Văn Hưng phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger