Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN PHÚ NHUẬN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 65/2024/HS-ST

Ngày: 05/8/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Thị Thu Dung

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Phú Cường

Bà Nguyễn Thị Huỳnh

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Minh Tâm-

là thư ký Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận tham gia phiên tòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận tham gia phiên tòa:

Bà Võ Thị Thu Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 8 năm 2024 tại phòng xử án Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 50/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 64/2024/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Bùi Thị Đức M sinh năm: 1956 tại Lào; Hộ khẩu thường trú: B T, Phường I, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi ở hiện nay: 1 đường số F Tổ C ấp P, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Quang T (chết) và bà Lê Thị H (chết); chưa có chồng (có 3 con, lớn sinh năm 1975, nhỏ sinh năm 1987); tiền sự: không; tiền án: không. Bị cáo ra đầu thú ngày 17/4/2023, bị cáo đang bị áp dụng lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo tại ngoại (có mặt).

- Người bị hại: Bà Nguyễn Thị Ngọc M1 sinh năm: 1951

Địa chỉ: 3 N, Phường A, quận T, TP HCM

(vắng mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn D sinh năm: 1967

Địa chỉ: D P, Phường B, quận P, TP HCM.

(vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng năm 1992, Bùi Thị Đức M buôn bán quần áo và đá quý ở chợ N, quận P. Qua buôn bán, M quen biết và có vay của Nguyễn D 01 lượng vàng 24K với lãi suất 01 tháng là 01 chỉ vàng 24K, khi nào D lấy lại tiền gốc thì báo trước cho M 01 tháng.

M đóng lãi cho D được 5 tháng thì D đòi M trả lại 01 lượng vàng 24K mà không thông báo trước như thỏa thuận. Do không có tiền trả cho D nên M nói với D là qua cửa hàng của bà Nguyễn Thị Ngọc M1 (kinh doanh vàng bạc, đá quý) tại số H T, Phường A, quận P lấy hàng của bà M1 đem bán rồi M sẽ trả dần cho D, còn thiếu đủ bao nhiêu thì M sẽ tính với bà Mai s. M còn dặn Dánh là khi qua gặp bà M1 thì nói với bà M1 rằng bà ngoại của D muốn mua 01 đôi bông tai hột xoàn (tức kim cương) để bà M1 tin tưởng.

Khoảng 10 giờ ngày 28/8/1993, D chở M đến gặp bà M1. M giới thiệu với bà M1D có bà ngoại đang cần mua một đôi bông hột xoàn. Tin lời M, bà M1 đưa cho D một đôi bông tai 4 ly 5, giá 01 lượng 09 chỉ vàng. Bà M1 đồng ý đưa cho D mang đi nơi khác thử, nếu không mua thì trong vòng 03 tiếng đồng hồ sau phải trả lại đôi bông tai cho bà M1. Sau đó, DM mang đôi bông tai ra Công ty K bán được 01 lượng 2 chỉ vàng. M đưa cho D 01 lượng vàng để trừ nợ, còn lại 02 chỉ vàng M giữ lại tiêu xài cá nhân.

Do không thấy DM đem bông tai trả lại nên bà M1 đã tìm gặp DM. Đồng thời bà M1 đã đến Công an tố cáo hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của DM. Ngày 24/02/1994 Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an quận P ra Quyết định khởi tố vụ án và khởi tố bị can đổi với Nguyễn DBùi Thị Đức M về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản công dân”. Sau đó, D đưa cho M 5 chỉ vàng để trả trước cho bà M1, thời gian sau D trả tiếp cho bà M1 được 05 chỉ vàng. Do không còn khả năng trả nữa nên DM bỏ trốn nên ngày 22/6/1994, Cơ quan điều tra Công an quận P đã ra lệnh truy nã đối với DM.

Trong thời gian D và Minh trốn truy nã thì mẹ của D đã liên hệ với bà M1 và trả cho bà M1 số tiền là 4.000.000 đồng. Bà M1 không có yêu cầu gì về phần bồi thường dân sự.

Ngày 17/4/1995, D trở về gia đình thì bị Công an quận P bắt theo Lệnh truy nã.

Tại Bản án số 100/HSST ngày 15/8/1995 của Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt Nguyễn D 06 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản công dân” theo khoản 1 Điều 157 Bộ luật hình sự năm 1985.

Về dân sự: Nguyễn D đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bà M1 và được bà M1 bãi nại. Nay Dánh không có yêu cầu gì đối với M.

Ngày 17/4/2023, Bùi Thị Đức M đến Công an quận P đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, M khai bản thân biết mình đang bị truy nã nhưng do sợ bị bắt giam nên đã bỏ trốn, sinh sống ở nhiều nơi. Cơ quan điều tra đã cho MD đối chất, lời khai của các bên phù hợp với nội dung vụ án.

Tại Kết luận định giá số 25/KL-ĐG ngày 20/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận P thể hiện: 01 lượng 09 vàng 24K (thời điểm tháng 8 năm 1993) có giá trị là 6.080.000 (sáu triệu không trăm tám mươi ngàn) đồng.

Tại Bản cáo trạng số 45/CT-VKS.PN ngày 12/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận đã truy tố bị cáo Bùi Thị Đức M về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận giữ quyền công tố và tranh luận:

Sau khi xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ buộc tội và các tình tiết khác có trong hồ sơ vụ án, cũng như lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy: Vì muốn chiếm đoạt tài sản của bà M1 nên ngày 28/8/1993 tại số nhà H T, Phường A, quận P, bị cáo MD đã có hành vi dùng thủ đoạn gian dối để bà M1 tin tưởng đưa tài sản, M giới thiệu với bà M1D có bà ngoại đang cần mua một đôi bông hột xoàn. Tin lời M, bà M1 đưa cho D một đôi bông tai 4 ly 5, giá 01 lượng 09 chỉ vàng. Bà M1 đồng ý đưa cho D mang đi nơi khác thử, nếu không mua thì trong vòng 03 tiếng đồng hồ sau phải trả lại cho bà M1. Tuy nhiên, sau đó cả hai mang đi bán, chiếm đoạt tài sản của bà M1 là 01 đôi bông tai hột xoàn trị giá 01 lượng 09 chỉ vàng 24K.

Căn cứ khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định hiệu lực của Bộ luật hình sự về thời gian thì hành vi phạm tội của Bùi Thị Đức M đã cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Do đó, Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo M về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 174; khoản 3 Điều 7; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo mức án từ 09 (chín) tháng tù đến 01 (một) năm tù.

Bị cáo là người cao tuổi, có đơn đề nghị miễn án phí. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét miễn án phí hình sự cho bị cáo theo quy định của pháp luật.

Về bồi thường thiệt hại: Nguyễn D đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bà M1 và được bà M1 có đơn bãi nại. Nay Dánh không có yêu cầu gì đối với bị cáo M. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

- Bị cáo M thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, không có ý kiến tranh luận gì. Lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt vì hiện nay bị cáo đã lớn tuổi, đang mắc nhiều bệnh trong người, sức khỏe yếu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo không có ý kiến hoặc có khiếu nại, tố cáo về hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tổ tụng của Cơ quan tiến hành tổ tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Hành vi phạm tội mà bị cáo M thực hiện tại thời điểm Bộ luật hình sự năm 1985 có hiệu lực pháp luật. Theo khoản 3 Điều 7 của Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định về hiệu lực của Bộ luật hình sự về thời gian như sau:

“3. Điều luật xóa bỏ một tội phạm, một hình phạt, một tình tiết tăng nặng, quy định một hình phạt nhẹ hơn, một tình tiết giảm nhẹ mới hoặc mở rộng phạm vi áp dụng án treo, miễn trách nhiệm hình sự, loại trừ trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt, tha tù trước thời hạn có điều kiện, xóa án tích và quy định khác có lợi cho người phạm tội, thì được áp dụng đối với hành vi phạm tội đã thực hiện trước khi điều luật đó có hiệu lực thi hành.”.

Như vậy, đối chiếu với quy định tại khoản 1 Điều 174 của Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” có quy định hình phạt nhẹ hơn so với tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản công dân” theo khoản 1 Điều 157 của Bộ luật hình sự năm 1985, có lợi cho người phạm tội nên áp dụng để làm căn cứ để giải quyết vụ án.

[3]. Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa cũng như tại cơ quan điều tra là phù hợp với nhau và phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đồng thời cũng phù hợp với các biên bản hoạt động điều tra, các tài liệu chứng cứ được trích sao từ hồ sơ vụ án tại thời điểm xảy ra hành vi phạm tội và xét xử Nguyễn D, kết luận của hội đồng định giá cũng như các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập trong hồ sơ vụ án. Như vậy, với các tình tiết đã được chứng minh tại phiên tòa hôm nay đã có đủ cơ sở để kết luận:

Vì muốn chiếm đoạt tài sản của bà M1 nên ngày 28/8/1993 tại số nhà H T, Phường A, quận P, bị cáo MD đã có hành vi dùng thủ đoạn gian dối để bà M1 tin tưởng đưa tài sản, M giới thiệu với bà M1D có bà ngoại đang cần mua một đôi bông hột xoàn. Tin lời M, bà M1 đưa cho D một đôi bông tai 4 ly 5, giá 01 lượng 09 chỉ vàng 24K. Bà M1 đồng ý đưa cho D mang đi nơi khác thử, nếu không mua thì trong vòng 03 tiếng đồng hồ sau phải trả lại cho bà M1. Tuy nhiên, sau đó cả hai mang đi bán, chiếm đoạt tài sản của bà M1 là 01 đôi bông tai hột xoàn trị giá 01 lượng 09 chỉ vàng 24K.

Do đó, có đủ cơ sở pháp lý để kết luận bị cáo đã phạm vào tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 174 của Bộ luật hình sự như Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận truy tố là có căn cứ và đúng pháp luật.

[4]. Hành vi phạm tội mà bị cáo thực hiện đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội. Do đó, cần phải xét xử nghiêm bị cáo, cần tiếp tục cách ly bị cáo một thời gian để giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

[5]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo ra đầu thú, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, nên Hội đồng xét xử xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo khi lượng hình.

[6]. Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng trong vụ án: Đã được giải quyết trong Bản án hình sự số 100/HSST ngày 15/8/1995 của Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh.

Nguyễn D cũng không yêu cầu gì đối với bị cáo M về phần trách nhiệm dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7]. Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy bị cáo đã lớn tuổi, không có thu nhập, bệnh tật nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[8]. Về án phí: Bị cáo thuộc trường hợp người cao tuổi, có đơn xin miễn đóng án phí nên theo quy định của pháp luật, bị cáo được miễn án phí hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Bùi Thị Đức M phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

- Căn cứ khoản 1 Điều 174; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 3 Điều 7; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Bùi Thị Đức M 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.

- Căn cứ Điều 2 Luật người cao tuổi, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Bị cáo được miễn toàn bộ án phí án phí hình sự sơ thẩm.

- Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tòa tuyên án. Đối với người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày được giao bản án hoặc ngày niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND TP HCM;
  • - VKSND TPHCM;
  • - VKSND quận Phú Nhuận;
  • - Điều tra Tổng hợp CAQPN;
  • - Chi cục THADS QPN;
  • - Phòng PC 06;
  • - Sở Tư pháp TP HCM;
  • - Người tham gia tố tụng khác;
  • - Bị cáo;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - Lưu hồ sơ, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Mai Thị Thu Dung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 65/2024/HS-ST ngày 05/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 65/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger