|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY NAM TỈNH BẾN TRE |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 65/2024/HN-ST Ngày: 03-6-2024 “V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình về ly hôn, nuôi con chung” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY NAM - TỈNH BẾN TRE
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thúy Hằng
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Trần Thị Sẩm
- Bà Lê Thị Thu Hồng
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoàng Thu Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Lanh – Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 6 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 134A/2024/TLST-HNGĐ, ngày 27 tháng 3 năm 2024, về: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình về ly hôn, nuôi con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 201/2024/QĐXX-ST ngày 14 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Hồ Thị Thu H, sinh năm 1994; Địa chỉ cư trú: ấp T, xã Đ, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.
- Bị đơn: Anh Lê Hữu Đ, sinh năm 1985; Địa chỉ cư trú: ấp P, xã B, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre..
Chị H có mặt, anh Đ vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn đề ngày 14/3/2024, trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa, chị Hồ Thị Thu H trình bày:
- Về hôn nhân: Chị xin ly hôn với anh Lê Hữu Đ. Lý do: Chị và anh Lê Hữu Đ do tìm hiểu tự nguyện tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã B cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn vào ngày 11/5/2023. Quá trình sống chung, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn. Anh Đ không lo làm, không lo cho vợ con. Vợ chồng không có tiếng nói chung, không thể hoà hợp nên chị về bên chị sống. Nay tình cảm đã không còn, mâu thuẫn đã đến mức trầm trọng nên quyết định ly hôn.
- Về con chung: Lê Hồ Hữu H1, sinh ngày 24/10/2022. Khi ly hôn, chị yêu cầu được trực tiếp nuôi con và yêu cầu anh Lê Hữu Đ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng cho đến khi con đủ 18 tuổi. Con sống chung với chị bên gia đình chị từ nhỏ cho đến nay, đã ổn định cuộc sống. Chị hiện nay đang làm thuê tại thành phố Hồ Chí Minh, thu nhập khoảng 15.000.000 đồng/tháng. Anh Đ hiện nay làm nghề gì thì chị không biết, chị cũng không rõ thu nhập. Chị cũng không có tài liệu, chứng cứ gì chứng minh mức thu nhập hàng tháng của anh Đ.
- Về tài sản chung của vợ chồng: Không có, không yêu cầu giải quyết.
- Về nợ chung của vợ chồng: Không có.
Bị đơn anh Lê Hữu Đ vắng mặt, không lời trình bày.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Nam phát biểu cho rằng:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán chủ tọa phiên tòa trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký cũng như đương sự nghiêm túc thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình được Bộ luật tố tụng dân sự quy định. Nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa, không có đơn xin vắng.
Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị xem xét: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Hồ Thị Thu H; Con chung: Có 01 con chung tên Lê Hồ Hữu H1, sinh ngày 24/10/2022. Khi ly hôn, chị Hồ Thị Thu H được trực tiếp nuôi con, về mức cấp dưỡng nuôi con: 1.000.000 đồng/tháng, cho đến khi con tròn 18 tuổi. Tài sản chung và nợ chung: Chị H trình bày không có, anh Đ vắng mặt không lời trình bày, không giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, nghe ý kiến của Kiểm sát viên. Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về áp dụng pháp luật tố tụng:
Căn cứ vào đơn xin ly hôn của chị Hồ Thị Thu H, Hội đồng xét xử xác định vụ án có quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp hôn nhân và gia đình về ly hôn, nuôi con chung”; Trong đó xác định chị Hồ Thị Thu H là nguyên đơn, anh Lê Hữu Đ là bị đơn; vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 68 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Xét việc vắng mặt của anh Lê Hữu Đ tại phiên tòa (vắng mặt lần thứ 2, không có đơn xin vắng), Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt anh Lê Hữu Đ là đúng quy định tại khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2]. Về nội dung giải quyết vụ án:
1. Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Hồ Thị Thu H, thấy rằng: Chị H yêu cầu xin ly hôn với anh Đ. Anh Đ vắng mặt, không lời trình bày.
Khi thực hiện xác minh, chính quyền địa phương cho biết thông tin: Hôn nhân của anh Đ và chị H có tổ chức đám cưới theo phong tục, tập quán tại địa phương và có đăng ký kết hôn theo quy định. Tại địa phương, anh Đ sống chung với cha mẹ và có đi làm nhưng không rõ thu nhập, gia đình không thuộc diện hộ nghèo nhưng thuộc gia đình có kinh tế khó khăn. Về phía chị H, đem theo con rời khỏi địa phương thời gian khá lâu, không còn ở bên nhà chồng. Các cuộc họp tại địa phương không nhận được đơn yêu cầu hòa giải nên không rõ mâu thuẫn vợ chồng.
Thấy rằng mục đích hôn nhân là để xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc; trong quá trình sống chung vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau. Xét thấy mâu thuẫn giữa chị H và anh Đ là có thật. Nguyên nhân bắt nguồn từ mâu thuẫn vợ chồng, từ việc bất đồng quan điểm, cãi vả nhau. Vợ chồng đã có thời gian không sống chung nhưng không tìm được hướng hàn gắn, đoàn tụ. Nay chị H kiên quyết ly hôn. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cũng đã tạo điều kiện triệu tập để cho vợ chồng hòa giải đoàn tụ nhưng anh Đ vắng mặt không đến Tòa nên không thể tiến hành hòa giải cho anh chị hàn gắn, đoàn tụ được. Xét khả năng hàn gắn đoàn tụ là không thể, mâu thuẫn đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân đã không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị H theo quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 là có căn cứ.
2. Về con chung: Có 01 con chung tên Lê Hồ Hữu H1, sinh ngày 24/10/2022. Khi ly hôn, chị H yêu cầu được trực tiếp nuôi con. Thấy rằng, từ nhỏ đến nay, con sống chung với chị H, đã quen cuộc sống bên mẹ, được mẹ trực tiếp chăm sóc. Con cũng chưa đủ 36 tháng tuổi. Do đó, để chị H trực tiếp nuôi con khi ly hôn là phù hợp.
Về việc chị H yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con, Hội đồng xét xử xét thấy, việc cấp dưỡng nuôi con là nghĩa vụ của người không trực tiếp nuôi con đối với con chưa thành niên. Việc chị H yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con là có căn cứ. Về mức cấp dưỡng nuôi con, tại phiên tòa, chị H thay đổi mức cấp dưỡng từ yêu cầu 4.000.000 đồng/tháng thành 2.000.000 đồng/tháng vì cho rằng không rõ thu nhập của anh Đ, mức cấp dưỡng như nêu trên đảm bảo để chị nuôi con. Thấy rằng, hiện chị H có nghề nghiệp và thu nhập ổn định. Về phía anh Đ, chị H không cung cấp được chứng cứ chứng minh anh Đ làm nghề gì và mức thu nhập là bao nhiêu. Theo thông tin từ địa phương hiện anh Đ có đi làm nhưng không rõ thu nhập, gia đình kinh tế khó khăn, đang sống chung với cha mẹ. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy, cần buộc anh Đ cấp dưỡng nuôi con với số tiền 1.000.000 đồng/tháng là phù hợp với mức thu nhập bình quân tại địa phương cũng đảm bảo cho chị H nuôi con.
Sau khi ly hôn, cha, mẹ đều có quyền, nghĩa vụ đối với con chung chưa thành niên theo quy định tại Điều 58, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
3. Về tài sản chung của vợ chồng: Chị H trình bày không có, anh Đ vắng mặt, không lời trình bày, không giải quyết.
4. Về nợ chung của vợ chồng: Chị H trình bày không có, anh Đ vắng mặt, không lời trình bày, không giải quyết.
[3]. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định trên nên chấp nhận.
Án phí dân sự không có giá ngạch đối với yêu cầu xin ly hôn, chị H chịu theo quy định. Anh Đ chịu án phí đối với nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 68, khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Căn cứ Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVWQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Hồ Thị Thu H.
Cụ thể tuyên:
- Chị Hồ Thị Thu H được ly hôn với anh Lê Hữu Đ.
- Về con chung: Lê Hồ Hữu H1, sinh ngày 24/10/2022. Khi ly hôn, chị Hồ Thị Thu H được trực tiếp nuôi con. Buộc anh Lê Hữu Đ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 đồng (một triệu đồng)/tháng, cho đến khi con đủ 18 tuổi.
Sau khi ly hôn cha, mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chưa thành niên; người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở; trên cở sở lợi ích của con, cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con khi có căn cứ... theo quy định tại Điều 58, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Về tài sản chung của vợ chồng: Chị Hồ Thị Thu H trình bày không có, anh Lê Hữu Đ vắng mặt, không lời trình bày, không giải quyết.
- Về nợ chung của vợ chồng: Chị Hồ Thị Thu H trình bày không có, anh Lê Hữu Đ vắng mặt, không lời trình bày, không giải quyết.
Các đương sự không có yêu cầu nào khác, không xem xét.
- Về án phí dân sự không có giá ngạch:
- Đối với yêu cầu ly hôn: 300.000 đồng (Ba trăm nghìn), chị Hồ Thị Thu H phải chịu. Được khấu trừ theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005275 ngày 22 tháng 3 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.
- Đối với nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: 300.000 đồng (Ba trăm nghìn), anh Lê Hữu Đ phải chịu.
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành bản án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nguyên đơn có mặt có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Đã ký Đỗ Thúy Hằng |
Bản án số 65/2024/HN-ST ngày 03/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY NAM, TỈNH BẾN TRE về tranh chấp hôn nhân và gia đình về ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 65/2024/HN-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình về ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY NAM, TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu
