Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN LÊ CHÂN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 65/2024/HS-ST

Ngày 02-5-2024


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM


TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN - THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG


Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Bá Lộc

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Hạnh

Bà Nguyễn Thị Mai

- Thư ký phiên toà: Ông Trịnh Việt Anh, là Thư ký Toà án nhân dân quận Lê Chân

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân tham gia phiên toà: Ông Trần Tuấn Anh, Kiểm sát viên


Ngày 02 tháng 5 năm 2024 Toà án nhân dân quận L, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 63/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 305/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:

Vì Văn N, sinh ngày 05 tháng 5 năm 1993 tại Yên Bái. Đăng ký hộ khẩu thường trú: Bản Tào, xã H, thị xã N, tỉnh Yên Bái; nơi ở hiện tại: Không có nơi ở cố định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vì Văn T và bà Hoàng Thị D; có vợ là Lò Thị T1 (đã ly hôn); có 01 con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ ngày 04/01/2024, tạm giam ngày 12/01/2024; có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Cù Thúy M - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố H; có mặt.


NỘI DUNG VỤ ÁN:


Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 11 giờ 15 phút ngày 04/01/2024, Công an phường D, quận L, thành phố Hải Phòng làm nhiệm vụ tuần tra tại khu vực cổng chùa H1, địa chỉ số E D, phường D, quận L phát hiện Vì V đang đi bộ có biểu hiện nghi vấn tội phạm về ma túy. Khi tổ công tác tiến hành kiểm tra, N làm rơi từ tay trái xuống đất cạnh chân trái 01 mảnh giấy màu trắng bên trong có 01 túi nilon màu trắng mép viền đỏ chứa chất bột màu trắng. Tổ công tác đã dẫn giải N cùng toàn bộ vật chứng về trụ sở Công an phường D lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang. Ngoài ra, còn thu giữ của N số tiền 22.000 đồng.

Tại Kết luận giám định số 17/KL-KTHS ngày 08/01/2024 của Phòng K Công an thành phố H kết luận: Chất bột màu trắng thu giữ của Vì Văn Nọi gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 0,15 gam, loại: Heroine.

Vì Văn N khai nhận: Vào khoảng hơn 09 giờ ngày 04/01/2024, Vì Văn N đi bộ một mình đến khu vực đường T, quận L, thành phố Hải Phòng để tìm mua ma túy Heroine về sử dụng. Khi đến khu vực đường tàu Trần Nguyên H, N gặp và thỏa thuận mua 200.000 đồng ma túy Heroine với 01 người nam giới điều khiển xe mô tô màu đen (Nọi không nhớ biển số xe), nam giới này bảo N lên ngồi sau xe rồi chở đến khu vực trong chùa H1, phường D, quận L, thành phố Hải Phòng thì dừng lại. Tại đây nam giới đưa cho N 01 gói giấy màu trắng, N nhận gói giấy, biết bên trong có ma tuý Heroine cần mua nên cầm ở tay trái và lấy 200.000 đồng đưa cho người nam giới. Người nam giới nhận tiền rồi cho lại Nọi 22.000 đồng để mua bơm kim tiêm, N nhận tiền còn nam giới điều khiển xe mô tô đi đâu không rõ. Nọi đi bộ từ trong chùa ra đến khu vực đầu cổng chùa thì có mở gói giấy ra kiểm tra thấy bên trong gói giấy có 01 túi nilon màu trắng mép viền đỏ chứa ma túy Heroine. Lúc này, tổ công tác Công an phường D đến kiểm tra, do hoảng sợ N đã làm rơi gói ma túy từ tay trái xuống đất ngay sát cạnh chân trái của N. Lực lượng Công an đã bắt giữ N và thu giữ vật chứng như đã nêu trên.

Tại bản cáo trạng số 74/CT-VKSLC ngày 02 tháng 4 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân quận L, thành phố Hải Phòng truy tố Vì Văn N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận như nội dung trên và khai không có tài sản riêng, không có thu nhập ổn định. Số tiền cơ quan Công an thu giữ là số tiền bị cáo đã mua ma tuý được người bán đưa lại để mua xilanh, nước cất sử dụng ma tuý do chưa kịp mua thì bị bắt giữ.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Vì Văn N1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Vì Văn N1 mức án từ 15 đến 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Do bị cáo không có việc làm, không có tài sản riêng; đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì thư niêm phong số 17MT/PC09 đựng số ma túy còn lại cùng vỏ bao gói sau giám định.

Tịch thu nộp ngân sách Nhà Nước số tiền 22.000đ thu giữ của bị cáo.

Đối với người bán ma túy cho N1 do không xác định được lai lịch, địa chỉ nên không có cơ sở để điều tra, làm rõ; do vậy không đề nghị Hội đồng xét xử xét giải quyết.

Về án phí: Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Người bào chữa cho bị cáo trình bày lời bào chữa: Bản Cáo trạng số 74/CT-VKS ngày 02 tháng 4 năm 20243, Viện kiểm sát nhân dân quận L, thành phố Hải Phòng truy tố Vì Văn N1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật, nên không có ý kiến hay tranh luận về tội danh và điều luật áp dụng. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét: Lượng Heroin bị cáo tàng trữ 0,15g, mục đích để sử dụng cho bản thân, sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội; nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn và bản thân là người dân tộc thiểu số gia đình thuộc hộ nghèo, cận nghèo tại địa phương. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, cân nhắc xử phạt bị cáo mức án dưới mức thấp của Kiểm sát viên đề nghị cũng đủ để răn đe, cải tạo bị cáo; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền và xem xét miễn án phí cho bị cáo theo quy định pháp luật.


NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:


Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại giai đoạn điều tra, truy tố, tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì về quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.

- Về tội danh:

[2] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với các chứng cứ tài liệu khác tại hồ sơ và vật chứng thu giữ cho thấy: Hồi 11 giờ 15 phút ngày 04/01/2024, Vì Văn N1 đã có hành vi cất giữ trái phép 0,15 gam Heroine để sử dụng, tại khu vực cổng chùa H1 số E D, phường D, quận L, thành phố Hải Phòng, thì bị bắt quả tang. Nên có đủ cơ sở kết luận bị cáo Vì Văn N1 đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” vi phạm điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách quản lý chất ma tuý của Nhà nước, xâm phạm đến trật tự trị an xã hội.

[4] Bị cáo biết hành vi cất giữ trái phép chất ma túy bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng do là đối tượng sử dụng ma tuý nên vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[5] Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội; người bào chữa cho bị cáo và kiểm sát viên tham gia phiên toà có ý kiến đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự khi lượng hình là có căn cứ chấp nhận.

- Về hình phạt áp dụng:

[6] Xét ý kiến đề nghị của người bào chữa cho bị cáo về mức hình phạt, Hội đồng xét xử xét thấy ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp với hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và sẽ xem xét khi quyết định hình phạt. Từ những phân tích trên cần áp dụng hình phạt nghiêm buộc bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục cải tạo, phòng ngừa tội phạm chung.

- Về hình phạt bổ sung:

[7] Bị cáo không có tài sản riêng, không có việc làm và thu nhập; bị cáo là người dân tộc thiểu số, gia đình thuộc hộ nghèo tại địa phương; nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp với thực tế và ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên và của người bào chữa cho bị cáo tại phiên toà.

- Về xử lý vật chứng:

[8] Lượng Heroin thu giữ của bị cáo có khối lượng 0,15g; sau khi lấy 0,08g đi giám định lượng còn lại và vỏ bao gói được niêm phong lại trong một bì giấy có dấu niêm phong số 17MT/PC09 và có chữ ký của những người liên quan. Xét đây là vật cấm lưu hành, nên cần tịch thu tiêu huỷ.

[9] Đối với số tiền 22.000đ thu giữ của bị cáo, bị cáo khai đây là tiền trong số tiền 200.000₫ bị cáo đã sử dụng mua ma tuý và được người bán đưa lại để bị cáo mua xilanh, nước cất sử dụng; bị cáo chưa kịp mua thì bị bắt giữ; xét thấy số tiền này dùng vào việc phạm tội, đối chiếu điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

- Về án phí:

[10] Theo tài liệu trong hồ sơ do chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú cung cấp: Bị cáo thuộc hộ nghèo, cận nghèo địa phương đang quản lý; bị cáo cũng có đơn trình bày và xin miễn án phí; căn cứ Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án nên miễn án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo.


Vì các lẽ trên,


QUYẾT ĐỊNH:


Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Vì Văn Nọi 15 (mười lăm) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04 tháng 01 năm 2024.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì thư niêm phong số 17MT/PC09 đựng số ma túy còn lại cùng vỏ bao gói sau giám định.

Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 22.000đ (hai mươi nghìn đồng) thu giữ của bị cáo.

(Theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 03 tháng 4 năm 2024 giữa Cơ quan CSĐT Công an quận L và Chi cục thi hành án dân sự quận Lê Chân và theo Uỷ nhiệm chi ký hiệu: C4-02a/KB, số 17.2024/QĐ-CALC(HTTP) ngày 08/4/2024 từ số tài khoản 3949.0.9000514.00000 của Công an quận L đến số tài khoản 3949.0.1012022.00000 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân).

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Vì Văn N1 được miễn án phí Hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Hải Phòng;
  • - VKSND quận Lê Chân;
  • - VKSND thành phố Hải Phòng;
  • - Công an Quận Lê Chân + PV 06 + PC10;
  • - Trại tạm giam Công an Hải Phòng;
  • - Bị cáo + THAHS;
  • - Chi cục THADS quận Lê Chân;
  • - Sở tư pháp Hải Phòng;
  • - UBND xã Hạnh Sơn, thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Phạm Bá Lộc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 65/2024/HS-ST ngày 02/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN - THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 65/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 02/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN - THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vì Văn N - TTTPCMT
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger