|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 65/2025/HSST |
|
|
Ngày: 25/3/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Dung
Thẩm phán: Bà Đào Thị Thu Thuỷ
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Bá Dân
Ông Phạm Văn Huấn
Bà Trần Thị Thanh Bình
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Mai Hồng Minh – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Thanh - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 42/2025/TLST-HS ngày 20 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 57/2025/QĐXXST-HS ngày 13/3/2025 đối với bị cáo:
Lô Văn T; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 05/6/2003 tại: Xã L, huyện T; Nguyên quán: Xã L, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nơi thường trú và nơi ở hiện tại: Thôn M, xã L, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Số CCCD: [...], Trình độ học vấn: 11/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Tiền án, tiền sự: Không; Con ông: Lô Văn C; Con bà: Phạm Thị N; Vợ: Phạm Thị Huyền T1; Có 01 con; Bị tạm giữ, tạm giam từ 29/8/2024 đến nay, hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Có mặt.
* Người bào chữa cho bị cáo:
- Ông Nguyễn Hữu G – Luật sư Công ty L, đoàn Luật sư tỉnh Thanh Hoá.
- Bà Bùi Thị H - Luật sư Công ty L1, đoàn Luật sư tỉnh Thanh Hoá. Có mặt.
* Người bị hại: Anh Lang Văn T2, sinh 1993. Có mặt.
Địa chỉ: Thôn M, xã L, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Chị Phạm Thị Huyền T1, sinh 2005.
Địa chỉ: Thôn M, xã L, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.
* Người làm chứng: Anh Lương Văn H1, sinh 2002
Địa chỉ: Thôn M, xã L, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ ngày 28/8/2024, Lô Văn T đến quán B1 ở thôn T, xã L, huyện T ngồi uống bia cùng với các anh Lương Văn H1, Lương Xuân T3, Lương Văn O và Lang Văn T2. Trong lúc uống bia, vợ của T3 là chị Phạm Thị Huyền T1 gọi điện thoại cho T3 nhưng điện thoại T3 để ở nhà nên chị T1 đã gọi điện thoại cho anh H1 nhờ anh H1 nhắn T3 về nhà trông con, nấu cơm. Anh H1 gọi T3 ra trước cửa quán nói với T3 về việc vợ gọi về thì T3 trả lời "tý em về". Anh Lang Văn T2 nghe thấy vậy nên đã trêu đùa T3 sợ vợ, T3 chửi lại anh T2, hai bên định đánh nhau nhưng được H1 can ngăn nên T3 bỏ về nhà.
Do vẫn bực tức vì bị anh T2 trêu đùa nên khoảng 30 phút sau, T3 đi xe mô tô quay lại để đánh anh T2. Khi đến ngã ba thôn T, xã L, T3 nhặt một khúc luồng dài 2,86m mét bên lề đường, vác lên vai rồi tiếp tục điều khiển xe máy đi đến quán B1. Đến ngã ba cách quán B1 khoảng 100 mét thì T3 nhặt thêm một viên gạch (loại gạch đất nung) cầm bên tay phải, tay trái cầm khúc luồng đi bộ đến quán B1. Đến nơi, T3 thấy anh T2 đang chơi B-a, T3 đi lại gần anh T2 (cách khoảng hơn 03mét) vung tay ném viên gạch trúng vào vùng trán anh T2. Anh T2 ngồi sụp xuống đất, hai tay ôm đầu thì bị T3 tiếp tục cầm khúc luồng bằng hai tay giơ lên đập xuống trúng vào vùng vai, lưng trái anh T2. Do được mọi người trong quán can ngăn nên T3 dừng lại rồi đi về nhà. Anh T2 được đưa đi bệnh viện cấp cứu.
- Hậu quả: Anh Lang Văn T2 bị 01 (một) vết thương rách da, có kích thước 06x0,5cm tại vị trí phía trên đầu lông mày phải, chiều hướng từ trên xuống dưới, vết thương chảy máu, bờ mép nham nhở. Kết quả giám định và khám chuyên khoa xác định anh Lang Văn T2 bị chấn thương sọ não, dập não thùy trán phải, vỡ xương ổ mắt phải, không ảnh hưởng thị lực. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là: 37% (ba mươi bảy phần trăm).
- Hiện trường vụ án: Hiện trường nơi xảy ra vụ việc là quán Bia Thanh S ở thôn T, xã L, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Lực lượng chức năng đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, ghi nhận và thu giữ các dấu vết, vật chứng theo quy định.
- Thương tích và các kết quả giám định:
- + Tại bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 6768/KL-KTHS ngày 06/9/2024 của V Bộ C1 kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Lang Văn T2 tại thời điểm giám định tối thiểu là 14% (mười bốn phần trăm).
- + Tại bản kết luận giám định bổ sung tổn thương cơ thể trên người sống số 7522/KL-KTHS ngày 11/10/2024 của V Bộ C1 kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Lang Văn T2 tại thời điểm giám định là 37% (ba mươi bảy phần trăm).
Cơ chế hình thành thương tích: Tổn thương cơ thể của anh Lang Văn T2 do vật tày có cạnh gây ra.
Kết luận giám định video hình ảnh hiện trường
Tại bản kết luận giám định số 3371/KL-KTHS ngày 16/9/2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: Không phát hiện dấu vết chỉnh sửa, cắt ghép nội dung hình ảnh trong 01 (một) tệp video của 01 (một) đĩa DVD-R gửi giám định.
* Vật chứng thu giữ:
- - 01 (một) viên gạch chỉ đỏ, kích thước (13,5x9,5x5)cm, đã bị gãy vỡ một phần, bề mặt bám dính chất màu trắng dạng vữa cát, xi măng; đã được niêm phong theo quy định.
- - 01 (một) đoạn luồng đã khô, màu vàng, dài 2,86m; đường kính rộng nhất là 8,5cm, nhỏ nhất là 7,5cm.
* Trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra bị cáo Lô Văn T đã cùng gia đình đã thỏa thuận và bồi thường cho bị hại là anh Lang Văn T2 số tiền 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng). Anh T2 không đề nghị giải quyết vấn đề dân sự gì thêm trong vụ án
* Tình tiết khác trong vụ án:
Tài liệu điều tra xác định ngày 28/8/2024, sau khi uống bia tại quán B1, Lô Văn T đã điều khiển xe mô tô BKS 36M1-200.18 về nhà, sau đó đi xe máy quay lại quán B1 tìm đánh anh T2. Tuy nhiên, sau khi sự việc xảy ra Cơ quan CSĐT Công an huyện T không kiểm tra nồng độ cồn trong hơi thở, trong máu của T, nên không có căn cứ để xem xét xử lý hành chính đối với T về hành vi điều khiển phương tiện tham gia giao thông mà trong hơi thở hoặc trong máu có nồng độ cồn vượt quá quy định.
Tại bản cáo trạng số 29/CT-VKS- P2, ngày 19 tháng 02 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa truy tố Lô Văn T về tội: “Giết người”, quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự.
* Quan điểm của đại diện VKSND tỉnh Thanh Hóa:
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Lô Văn T về tội: “Giết người”, quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự.
- Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ Điểm n Khoản 1 Điều 123; Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 57; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Đề nghị xử phạt: Lô Văn T mức án từ 09 – 10 năm tù tội “Giết người”; Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29/8/2024.
- Về trách nhiệm dân sự: Công nhận phần bồi thường đã giải quyết xong
- Án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
- Xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu huỷ vật chứng đang tạm giữ tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hoá.
* Quan điểm của người bào chữa cho bị cáo: Thống nhất về tội danh khung hình phạt mà VKSND tỉnh Thanh Hóa đã truy tố đối với bị cáo. Đề nghị HĐXX xem xét các tình tiết giảm nhẹ như: Bị cáo nhân thân tốt, sau khi phạm tội thành khẩn khai báo, tác đôgnj gai đình bồi thường đầy đủ cho bị hại và bị hại cũng đề nghị xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, trong vụ án này bị cáo phạm tội giết người chưa đạt. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Điều 57 BLHS. Đề nghị quyết định cho bị cáo hình phạt nhẹ hơn mức án đại diện VKS đề nghị để bị cáo yên tâm cải tạo sớm thành công dân tốt.
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:
Cơ quan CSĐT, điều tra viên Công an tỉnh T, Viện kiểm sát nhân dân và Kiểm sát viên VKSND tỉnh Thanh Hóa trong quá trình điều tra, truy tố đều thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện là hợp pháp.
[2] Quá trình điều tra và lời khai tại phiên tòa của bị cáo xác định:
Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 28/8/2024, xuất phát từ việc bị anh Lang Văn T2 trêu chọc sợ vợ nên Lô Văn T bực tức cãi nhau với anh T2. Sau khi từ quán bia về nhà, T nảy sinh ý định quay lại quán bia để đánh anh T2. Trên đường đi T đem theo hung khí là gậy luồng dài 2,86m và một viên gạch nung nhặt bên đường. Lợi dụng lúc anh T2 đang chơi bị a ở quán không để ý nên T đi lại gần rồi cầm gạch nép thẳng vào vùng trán của anh T2, sau đó tiếp tục dùng gậy luồng đánh vào vùng vai, lưng trái của anh T2. Hậu quả Anh T2 bị chấn thương sọ não, dập não thùy trán phải, vỡ xương ổ mắt phải, tỷ lệ tổn thương cơ thể là 37% (Ba mươi bảy phần trăm). Hành vi dùng gạch nung (kích thước 13,5 x 9,5 x 5cm) ném thẳng vào đầu anh T2 ở khoảng cách gần (khoảng 3m) là nguy hiểm đến tính mạng, có thể dẫn đến chết người, nhưng T vẫn thực hiện bỏ mặc hậu quả xảy ra. Việc anh T2 không chết là do được cấp cứu và chữa trị kịp thời.
Hành vi của Lô Văn T thể hiện tính côn đồ, hung hãn; hành vi trên đủ yếu tố cấu thành tội “Giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự, cần phải xử nghiêm minh trước pháp luật.
Chỉ từ nguyên cớ nhỏ nhặt, bị cáo có hành vi dùng hung khí nguy hiểm (viên gạch) ném vào đầu anh T2, dùng gậy luồng, làm anh T2 bị thương tích, hành vi đặc biệt nguy hiểm, thể hiện tính côn đồ, xâm hại trực tiếp đến thân thể và sức khoẻ của anh T2. Anh T2 không chết là do được cấp cứu kịp thời. Hành vi của Lô Văn T có đủ các dấu hiệu cấu thành tội “Giết người” quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 BLHS.
[3] Xét tính chất vụ án:
Đây là vụ án “Giết người” có tính chất đặc biệt nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự trị an địa phương, gây nguy hiểm đến tính mạng, xâm phạm đến sức khỏe của người khác. Do đó, cần phải xử lý nghiêm nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
[4] Xét nhân thân và trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Trong vụ án này bị cáo Lô Văn T phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, bị hại không chết nhưng tỷ lệ thương tích 37%, hành vi có tính chất côn đồ. Với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo, cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, khi lượng hình nên giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt vì sau khi phạm tội thành khẩn khai báo, trong vụ án này bị cáo phạm tội giết người chưa đạt. Bị cáo đã bồi thường đầy đủ cho người bị hại, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 và Điều 57 BLHS, để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà nghiêm túc cải tạo sớm hoà nhập cộng đồng.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên toà, ngoài 50.000.000đ đã nhận bồi thường, bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm, nên công nhận phần bồi thường đã giải quyết xong.
[6] Về xử lý vật chứng: Vật chứng thu giữ của vụ án là 01 viên gạch nung và 01 gậy luồng là hung khí bị cáo dùng gây án (Vật chứng đang tạm giữ tại Cục THA dân sự tỉnh T theo biên bản giao nhận số 82 ngày 03 tháng 3 năm 2025), cần tịch thu tiêu hủy.
[7] Về án phí, quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ: Điểm n Khoản 1 Điều 123; Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 57; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Khoản 1, Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Lô Văn T phạm tội “Giết người” chưa đạt.
Xử phạt: Lô Văn T 08 (T4) năm 06 (S1) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29/8/2024.
Về trách nhiệm dân sự: Công nhận phần bồi thường đã giải quyết xong.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy vật chứng thu giữ của vụ án là 01 viên gạch nung và 01 gậy luồng (Vật chứng đang tạm giữ tại Cục THA dân sự tỉnh T theo biên bản giao nhận số 82 ngày 03 tháng 3 năm 2025).
Về án phí: Bị cáo Lô Văn T phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm. Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
|
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lê Thị Dung |
Bản án số 65/2025/HSST ngày 25/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về hình sự (giết người)
- Số bản án: 65/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Giết người)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lô Văn Tr "Giết người"
