|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 65/2025/HSST Ngày: 19/3/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH - TỈNH NGHỆ AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: ông Hoàng Thế Lan.
- Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Quốc Đấu
- 2. Bà Phan Thị Hà
- - Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Mạnh- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh tham gia phiên tòa: Ông Trần Quý Thuyên - Kiểm sát viên.
Trong ngày 19 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở tòa án nhân dân thành phố Vinh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 33/2025/TLST-HS ngày 6/02/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 51/2025/ HSST-QĐ ngày 07/02/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 28/2025/HSST-QĐ ngày 27/02/2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Hủn Vi B; tên gọi khác: Không; giới tính: Nam;
Sinh ngày 27/02/1995; nơi sinh: huyện Q, tỉnh Nghệ An;
Nơi cư trú: Bản C, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An;
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không;
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12;
Họ và tên cha: Vi Văn C, sinh năm 1965;
Họ và tên mẹ: Vi Thị N, sinh năm 1967;
Anh chị em ruột: Có 03 người, bị cáo là con thứ ba;
Vợ, con: Chưa có;
Tiền sự, tiền án: Không;
Bị cáo đầu thú, tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/10/2024 đến nay; hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N. Có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: 1. Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 2005.
Trú tại: Xóm Đ, xã Đ, thị xã T, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
2. Chị Phạm Thị Kiều K, sinh năm 2003.
Trú tại: Xóm H, xã T, thị xã T, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt
3. Chị Phùng Thị Q, sinh năm 2003.
Trú tại: Xóm P, xã T, huyện T, Nghệ An. Vắng mặt
4. Anh Nguyễn Ngọc B1, sinh năm 1993.
Trú tại: Khối Q,phường H, thị xã T, Nghệ An. Vắng mặt
5. Chị Lê Thị T, sinh năm 2003
Trú tại: Xóm A, xã M, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Nguyễn Văn C1, sinh năm 1991.
Trú tại: Số A, đường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt
2. Anh Phạm Trung H1, sinh năm 1984.
Trú tại: K phường L, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt
3. Anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1985.
Trú tại: Xóm E, xã P, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt
4. Anh Đặng Lê Trung K1, sinh năm 1997.
Trú tại: Tổ dân phố số F, phường B, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt
5. Anh Lê Đình L, sinh năm 1991.
Trú tại: Số A, đường P, phường B, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hủn Vi B là người không có việc làm ổn định, thường xuyên bỏ nhà đi lang thang. Để có tiền tiêu xài, trong khoảng thời gian từ ngày 18/9/2024 đến ngày 18/10/2024, Bé đã thực hiện 05 (năm) vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn thành phố V, tỉnh Nghệ An, cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất: Khoảng 09 giờ 00 phút ngày 18/9/2024, Hủn Vi B đi đến dãy trọ số H, ngõ B, đường P thuộc khối F, phường B, thành phố V, tỉnh Nghệ An nhằm mục đích trộm cắp tài sản. Thấy cửa chính không khoá, B đi đến phòng trọ của chị Nguyễn Thị H, sinh năm 2005, trú tại xóm Đ, xã Đ, thị xã T, tỉnh Nghệ An dùng kìm bẻ cong chốt khoá rồi đột nhập vào bên trong phòng trọ lấy trộm 01 (Một) chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu A 7 Gaming, màu đen của chị H đang để trên bàn học, bỏ vào ba lô rồi rời khỏi hiện trường. Đến ngày 19/9/2024, Bé mang chiếc máy tính trên đến cửa hàng cầm đồ "Đăng Khôi", địa chỉ: Số A, đường H, thành phố V để cầm cố. Tại đây, B gặp anh Nguyễn Văn C1, sinh năm 1991, trú tại xóm N, xã A, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh nói chiếc máy tính xách tay thuộc sở hữu của B cần cầm cố để lấy tiền tiêu xài. Sau khi kiểm tra máy tính không có mật khẩu màn hình khoá, còn sử dụng bình thường nên anh C1 đồng ý nhận cầm cố chiếc máy tính trên với số tiền 3.500.000 đồng (Ba triệu năm trăm nghìn đồng) trong thời hạn 10 ngày. Đến ngày 05/10/2024, Bé đến gặp anh C1 bán chiếc máy tính trên với giá 5.500.000 đồng. Số tiền trên, B đã tiêu xài cá nhân hết.
Vụ thứ hai: Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 08/10/2024, Hủn Vi B đi đến dãy trọ số B, ngõ B, đường N thuộc khối I, phường B, thành phố V nhằm mục đích trộm cắp tài sản. Thấy cửa chính không khoá, B đi đến phòng trọ số 114 của chị Phạm Thị Kiều K, sinh năm 2003, trú tại xóm H, xã T, thị xã T, tỉnh Nghệ An dùng kìm bẻ cong chốt khoá rồi đột nhập vào bên trong phòng trọ lấy trộm 01 (Một) chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu Dell Latitude 5410, màu xám và 01 (một) sạc pin của chị K đang để trên dường ngủ bỏ vào ba lô rồi rời khỏi hiện trường. Đến ngày 09/10/2024, Bé mang chiếc máy tính trên đến cửa hàng máy tính "Vinh Link", địa chỉ: Số D, ngõ C, đường N, thành phố V để bán. Tại đây, B gặp anh Phạm Trung H1, sinh năm 1984, trú tại khối F, phường L, thành phố V nói chiếc máy tính xách tay thuộc sở hữu của B cần bán để lấy tiền tiêu xài. Sau khi kiểm tra máy tính không có mật khẩu màn hình khoá, còn sử dụng bình thường nên anh H1 đồng ý mua chiếc máy tính trên với số tiền 3.500.000 đồng (Ba triệu năm trăm nghìn đồng). Sau đó, anh H1 đã bán chiếc máy tính trên cho một người khách không quen biết. Số tiền trên, B đã tiêu xài cá nhân hết.
Vụ thứ ba: Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 09/10/2024, Hủn Vi B đi đến dãy trọ số G, ngõ B, đường C thuộc khối A, phường T, thành phố V nhằm mục đích trộm cắp tài sản. Thấy cửa chính không khoá, B đi đến phòng trọ số 7 của chị Phùng Thị Q, sinh năm 2003, trú tại xóm P, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An dùng kìm bẻ cong chốt khoá rồi đột nhập vào bên trong phòng trọ lấy trộm 01 (Một) chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu ASUS TUF Gaming A15, màu đen để trên giường ngủ, bỏ vào ba lô và số tiền 600.000 đồng (sáu trăm nghìn đồng) trong túi xách treo trên giá đồ rồi rời khỏi hiện trường. Đến ngày 10/10/2024, B mang chiếc máy tính lấy trộm của chị Q đến cửa hàng máy tính "Hải Hà cơ sở 2", tại đường L, phường H thành phố V để bán. Tại đây, B gặp anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1985, trú tại xóm E, xã P, huyện N (nay là thành phố V), tỉnh Nghệ An nói chiếc máy tính xách tay thuộc sở hữu của B không còn nhu cầu sử dụng nên bán. Sau khi kiểm tra máy tính không có mật khẩu màn hình khoá, còn sử dụng bình thường nên anh T1 đồng ý mua chiếc máy tính trên với số tiền 4.500.000 đồng (Bốn triệu năm trăm nghìn đồng). Ngày 10/11/2024 anh T1 đã bán chiếc máy tính trên cho anh Phạm Đức T2; ngày 15/10/2024 anh T2 bán cho một người không quen biết với giá 6.500.000 đồng. Số tiền trên, B đã tiêu xài cá nhân hết.
Vụ thứ tư: Khoảng 13 giờ 00 phút ngày 13/10/2024, Hủn Vi B đi đến dãy trọ số B, ngõ F, đường V thuộc khối C, phường B, thành phố V nhằm mục đích trộm cắp tài sản. Thấy cửa chính không khoá, B đi đến phòng trọ của anh Nguyễn Ngọc B1, sinh năm 1993, trú tại khối Q, phường H, thị xã T, tỉnh Nghệ An dùng kìm bẻ cong chốt khoá rồi đột nhập vào bên trong phòng trọ lấy trộm 01 (Một) chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu Dell Vostro 3530 80GG9, màu xám của anh B1 đang để trên dường ngủ rồi bỏ vào ba lô rời khỏi hiện trường. Đến ngày 25/10/2024, B đang chơi điện tử tại quán Internet, số B đường P, thành phố V thì gặp anh Đặng Lê Trung K1, sinh năm 1997, trú tại tổ dân phố F, phường B, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh. Bé nói chiếc máy tính xách tay thuộc sở hữu của Bé nay không còn nhu cầu sử dụng nên bán. Sau khi kiểm tra máy tính không có mật khẩu màn hình khoá, còn sử dụng bình thường nên anh K1 đồng ý mua chiếc máy tính trên với số tiền 5.500.000 đồng (năm triệu năm trăm nghìn đồng) anh K1 trả trước 4.800.000 đồng, còn nợ 700.000 đồng. Số tiền trên, B đã tiêu xài cá nhân hết.
Vụ thứ năm: Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 18/10/2024, Hủn Vi B đi đến dãy trọ số I, đường B thuộc khối I, phường T, thành phố V nhằm mục đích trộm cắp tài sản. Thấy cửa chính không khoá, B đi đến phòng trọ số 205 của chị Lê Thị T, sinh năm 2003, trú tại xóm A, xã M, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh dùng kìm bẻ cong chốt khoá rồi đột nhập vào bên trong phòng trọ lấy trộm 01 (Một) chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu Lenovo Ideapad 3 Slim, màu xám của chị T đang để trên bàn học và 01 (một) lợn tiết kiệm màu đỏ làm bằng sứ để trên tủ quần áo rồi bỏ vào ba lô. Sau đó, B tiếp tục tìm kiếm và lấy trộm của chị T số tiền 1.100.000 đồng ở trong chiếc cặp cạnh bàn học rồi rời khỏi hiện trường. Sau khi lấy trộm toàn bộ tài sản trên Bé đi đến khu vực bãi đất trống tại đường P, thuộc phường T, thành phố V đập con lợn tiết kiệm lấy toàn bộ số tiền 3.500.000 đồng. Đến ngày 20/10/2024, B mang chiếc máy tính lấy trộm của chị T đến cửa hàng máy tính "Thắng Lợi", tại số A đường P thuộc phường B, thành phố V để bán. Tại đây, B gặp anh Lê Đình L, sinh năm 1991 (chủ cửa hàng) nói chiếc máy tính xách tay thuộc sở hữu của B không còn nhu cầu sử dụng nên bán. Sau khi kiểm tra máy tính không có mật khẩu màn hình khoá, còn sử dụng bình thường nên anh L đồng ý mua chiếc máy tính trên với số tiền 3.800.000 đồng (Ba triệu tám trăm nghìn đồng). Toàn bộ số tiền trên, B đã tiêu xài cá nhân hết.
Ngày 24 đến ngày 29/10/2024, các chị Nguyễn Thị H, Phan Thị Kiều K2, Phùng Thị Q, Lê Thị T và anh Nguyễn Ngọc B1 lần lượt đến cơ quan Công an trình báo sự việc.
Ngày 29/10/2024, Hủn Vi B đến Công an phường T đầu thú.
Tại Kết luận định giá tài sản số 214/KL-ĐGTS, ngày 05/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản UBND thành phố V, kết luận:
- “- Chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu Acer Aspire 7 Gaming, A715-76-57CY, i5-12450H/8G/512G/15.6"FHD/Win11, màu đen, đã qua sử dụng tại thời điểm ngày 18/9/2024 trị giá 14.500.000 đ (Mười bốn triệu năm trăm nghìn đồng).
- - Chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu D 5410, Window 10 Pro 1909 21AK22, số Product ID: 00330-80000-00000-AA863, Device ID: 0268C927-93F8-4E85-8D9D-792605A0469F, màu xám, đã qua sử dụng và 01 (một) sạc pin máy tính kèm theo tại thời điểm ngày 08/10/2024 trị giá 7.500.000 đ (Bảy triệu năm trăm nghìn đồng).
- - Chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu ASUS TUF Gaming FA5061CB-HN355W (AMD R - 4600H), màu đen, đã qua sử dụng và 01 (một) sạc pin máy tính kèm theo tại thời điểm ngày 09/10/2024 trị giá 12.000.000 đ(Mười hai triệuđồng)
- - Chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu Dell Vostro 3530 80GG9 (C3 /Intel UHD Graphics/15.6 inch Full HD/ Window 11, có số seri 1HF1K73, màu xám, đã qua sử dụng tại thời điểm ngày 13/10/2024 trị giá 14.590.000 đ (Mười bốn triệu năm trăm chín mươi nghìn đồng).
- - Chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu Lenovo Ideapad 3 Slim, (i3 Gen 10/Ram8G/SSD 250G/15.6 inch FHD), màu xám, đã qua sử dụng tại thời điểm ngày 18/10/2024 trị giá 16.000.000 đ (Mười sáu triệu đồng).
Tổng cộng tài sản định giá 69.790.000 đ (Sáu mươi chín triệu, bảy trăm chín mươi nghìn đồng).
Việc thu giữ và xử lý vật chứng vụ án:
- - 01 (một) chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu Lenovo Ideapad 3 Slim, màu xám, do anh Lê Đình L giao nộp, là tài sản thuộc sở hữu của chị Lê Thị T;
- - 01 (một) chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu Acer Aspire 7 Gaming, màu đen, do anh Nguyễn Văn C1 giao nộp, là tài sản thuộc sở hữu của chị Nguyễn Thị H;
- - 01 (một) chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu Dell Vostro 3530 80GG9, màu xám, do anh Đặng Lê Trung K1 giao nộp, là tài sản thuộc sở hữu của anh Nguyễn Ngọc B1. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V đã trả lại tài sản trên cho các chủ sở hữu.
- - 01 (một) chiếc kìm bằng kim loại, cán bọc bằng nhựa, dài khoảng 15 cm và 01 (một) chiếc ba lô bằng vải, loại hai dây đeo, màu đen, kích thước 35x45 cm, được chia thành ba túi đựng, đã qua sử dụng, thu giữ của Hủn Vi B, hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng Công an thành phố V, tỉnh Nghệ An.
Đối với 01 (Một) chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu Dell Latitude 5410, màu xám và 01 (Một) chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu ASUS TUF Gaming A15, màu đen. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V đã thông báo truy tìm nhưng không có kết quả.
Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại yêu cầu Hủn Vi B bồi thường tổng số tiền: 25.200.000 đồng ( trong đó: chị Phan Thị Kiều K2 yêu cầu 8.000.000 đồng, chị Phùng Thị Q yêu cầu 12.600.000 đồng, chị Lê Thị Thương yêu C2 4.600.000 đồng).
Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan yêu cầu Hủn Vi B bồi thường tổng số tiền 14.100.000 đồng (trong đó: anh Nguyễn Văn C1 yêu cầu 5.500.000 đồng, anh Đặng Lê Trung K1 yêu cầu 4.800.000 đồng, anh Lê Đình L yêu cầu 3.800.000 đồng).
Tại bản cáo trạng số 64/CT- VKS- TPV ngày 05 tháng 02 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh đã truy tố Hùn Vi B2 về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với Hủn Vi B về tội “Trộm cắp tài sản”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173, Điểm s khoản 1; 2 Điều 51; Điều 38 BLHS xử phạt Hùn Vi B2 từ 30 đến 33 tháng tù.
Về dân sự: Căn cứ Điều 47 BLHS; Điều 170 ; 585, 586 và Điều 589 BLDS buộc bị cáo Hủn Vi B phải bồi thường cho các bị hại và những người liên quan.
Về xử lý vật chứng: căn cứ điều 47 BLHS. Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc kìm và 01 ba lô thu giữ của bị cáo.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội đúng như bản Cáo trạng đã nêu và xin được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:
Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra công an T, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân TP Vinh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều được thực hiện hợp pháp.
[2]. Về căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Hủn Vi B hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của người bị hại, người liên quan, cũng như các chứng cứ có tại hồ sơ vụ án nên đủ cơ sở kết luận: Vào các ngày từ 18/9/2024 đến 18/10/2024, Hủn Vi B thực hiện 05 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn thành phố V, tỉnh Nghệ An, chiếm đoạt tài sản có tổng giá trị là 69.790.000 đồng (sáu mươi chín triệu bảy trăm chín mươi nghìn đồng). Trong đó: trộm của chị Nguyễn Thị H 01 (một) chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu A 7 Gaming, màu đen, trị giá 14.500.000 đồng (mười bốn triệu năm trăm nghìn đồng); trộm của chị Phan Thị Kiều K2 01 (một) chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu Dell Latitude 5410, màu xám và 01 (một) sạc pin, trị giá 7.500.000 đồng (bảy triệu năm trăm nghìn đồng); trộm của chị Phùng Thị Q 01 (một) chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu ASUS TUF Gaming A15, màu đen, trị giá 12.000.000 đồng (mười hai triệu đồng) và số tiền 600.000 đồng (sáu trăm nghìn đồng); trộm của anh Nguyễn Ngọc B1 01 (một) chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu Dell Vostro 3530 80GG9, màu xám, trị giá 14.590.000 đồng (mười bốn triệu năm trăm chín mươi nghìn đồng); trộm của chị Lê Thị T 01 (một) chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu Lenovo Ideapad 3 Slim, màu xám, trị giá 16.000.000 đồng (mười sáu triệu đồng) và số tiền 4.600.000 đồng (bốn triệu sáu trăm nghìn đồng). Viên kiểm sát TP V truy tố Hủn Vi B về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 BLHS là có căn cứ.
[3]. Về tính chất vụ án: Vụ án thuộc trường hợp nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, hành vi của bị cáo đã làm mất trật tự trị an trên địa bàn thành phố. Việc đưa bị cáo ra xét xử bằng bản án hình sự là hoàn toàn thỏa đáng, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4]. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo:
Tại phiên tòa cũng như trong quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội. Sau khi phạm tội bị cáo đã đến cơ quan Công an đầu thú. Do vậy cần cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1,2 Điều 51 BLHS. Bị cáo B sống lang thang không tu chí làm ăn vì vậy cần cách ly bị cáo một thời gian để bị cáo cải tạo mình để sớm trở thành người có ích cho gia đình và xã hội( Điều 38 BLHS).
Bị cáo Hủn Vi B không có việc làm ổn định và thu nhập thấp, không có tài sản riêng, sống lang thang. Do vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Đối với các Anh Nguyễn Văn C1, Phạm Trung H1, Nguyễn Văn T1, Đặng Lê
Trung K1 và Anh Lê Đình L là những người mua tài sản của bị cáo B, nhưng họ không biết được các tài sản trên do bị cáo phạm tội mà có nên không phạm tội.
[5]. Về dân sự: Tài sản mà bị cáo trộm cắp nay không thu hồi được và số tiền bị cáo bán tài sản trộm cắp, người bị hại, người liên quan có yêu cầu bồi thường là có căn cứ nghĩ nên cháp nhận. Tổng số tiền yêu cầu là 39.300.000đ (khoản 1 Điều 48 BLHS; Điều 170, 585,586 và 589 BLDS).
[6]. Về xử lý vật chứng: 01 chiếc kìmlàm bằng kim loại, cán bọc bằng nhựa, dài khoảng 15cm thu giữ của bị cáo là phương tiện mà bị cáo dùng để phá khóa và 01 ba lô bằng vải, loại hai dây đeo, màu đen, kích thước khoảng 35 x 45cm, được chia thành ba túi đựng bị cáo dùng để đưng tài sản trộm cắp xét thấy kìm và ba lô không còn giá trị sử dụng nên tich thu tiêu hủy(Điểm c, khoản 1 Điều 47 BLHS). Vật chứng hiện nhập kho chi cục thi hành án dân sự thành phố Vinh, theo phiếu nhập kho ngày 14/02/2025..
[7].Về án phí: Bị cáo Hủn Vi B phải chịu án phí Hình sự và án phí dân sự theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1,2 Điều 51; Điều 38 BLHS, xử phạt: Bị cáo Hủn Vi B 02 (Hai) năm 06 (S) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 30/10/2024).
2.Về dân sự: Căn cứ khoản 1 Điều 48 BLHS. Điều 170; Điều 585, 586 và 589 BLDS Buộc bị cáo Hủn Vi B phải bồi thường cho người bị hại và người liên quan tổng số tiền là 39.300.000₫ (Ba mươi chín triệu, ba trăm ngàn đồng) cụ thể sau:
- - Bồi thường cho Chị Phạm Thị Kiều K, số tiền 8.000.000đ(Tám triệu đồng).
- - Bồi thường cho Chị Phùng Thị Q số tiền 12.600.000đ(Mười hai triệu, sáu trăm ngàn đồng).
- - Bồi thường cho Chị Lê Thị T, số tiền 4.600.000đ(Bốn triệu sáu trăm ngàn đồng).
- - Bồi thường cho Anh Nguyễn Văn C1, số tiền 5.500.000đ(Năm triệu, năm trăm ngàn đồng).
- - Bồi thường cho Anh Đặng Lê Trung K1, số tiền 4.800.000đ(Bốn triệu, tám trăm ngàn đồng).
- - Bồi thường cho Anh Lê Đình L, số tiền 3.800.000đ(Ba triệu, tám trăm ngàn đồng).
3.Về xử lý vật chứng: Căn cứ vảo điểm c, khoản 1 Điều 47 BLHS, tịch thu tiêu hủy: - 01 chiếc kìm làm bằng kim loại, cán bọc bằng nhựa, dài khoảng 15cm và 01 ba lô bằng vải, loại hai dây đeo, màu đen, kích thước khoảng 35 x 45cm, được chia thành ba túi đựng. Vật chứng hiện nhập kho chi cục thi hành án dân sự thành phố Vinh, theo phiếu nhập kho ngày 14/02/2025.
4. Về án phí: căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 BLTTHS, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội. Buộc bị cáo Hủn Vi B phải chịu 200.000 đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 1,965.000 đ (Một triệu, chín trăm sáu lăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thế Lan |
Bản án số 65/2025/HSST ngày 19/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH - TỈNH NGHỆ AN về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 65/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH - TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hủn Vi Bé - Trộm cắp tài sản
