Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 65/2025/HS-ST

Ngày: 23 - 01- 2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Anh Ngọc.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • Ông Phạm Văn Phước.
  • Bà Nguyễn Hương Thủy.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tuấn Anh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Vinh – Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 22/2025/HSST ngày 10 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2025/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 01 năm 2025, đối với các bị cáo:

1. Âu Gia K, sinh năm 2003 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi thường trú: 1207 Tỉnh lộ 43, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: 1207 Tỉnh lộ 43, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên Chúa; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Sinh viên; con ông Âu Văn T, sinh năm 1970 và bà Trần Thị Tuyết T1, sinh năm 1972; bị cáo là con út trong gia đình có 02 chị em; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú ngày 24/6/2024, có mặt tại phiên tòa.

2. Trịnh Y K1, sinh năm 2003 tại Bình Dương; nơi thường trú: 305 N, khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương; nơi cư trú: C N, khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Không; con ông Trịnh Tuấn K2, sinh năm 1980 và bà Phạm Thị Hồng M, sinh năm 1979; bị cáo là con duy nhất trong gia đình; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú ngày 24/6/2024, có mặt tại phiên tòa.

3. Tạ Minh T2, sinh năm 1988 tại Long An; nơi thường trú: 163/4 ấp M, xã D, huyện C, tỉnh Long An; nơi cư trú: Số A khu phố Đ, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: Làm thuê; con ông Tạ Minh V, sinh năm 1966 và bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1966; bị cáo là con thứ 04 trong gia đình có 05 anh em; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú ngày 24/6/2024, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do muốn đặt cược cá độ bóng đá trong giải EURO năm 2024 nên Tạ Minh T2 (sinh năm 1988) gặp Âu Gia K (sinh năm 2003) (T2 là nhân viên bán gas của nhà K) hỏi có biết ai cá cược bóng đá không thì K nói có và nhận đặt cược cho T2. Khoảng 16 giờ 25 phút ngày 16/6/2024, K nhắn tin qua ứng dụng Messenger rủ Trịnh Y K1 (sinh năm 2003) là bạn đi uống cà phê tại quán “Lặng” thuộc KDC A, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh thì K1 đồng ý. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, K gặp K1 tại quán cà phê “Lặng” thì K hỏi K1: “có ôm kèo cá độ bóng đá không?”, “tao có ông chú cũng bắt độ nè nếu ôm thì tao nói ông chú đánh, tao gửi qua mày” thì K1 nói: “để ôm thử” rồi K nói với T2 là có kèo cá cược nếu T2 bắt độ thì K đứng giữa để trao đổi thông tin và nhận tiền mặt từ T2 và K1 để chung thắng thua, K không nhận hoa hồng hay tiền chênh lệch. Sau đó, K nhắn tin cho K1 báo tỷ lệ đặt cược trận Hà Lan với Ba Lan ngày 16/6/2024, K1 lên Google tìm kiếm tỷ lệ đặt cược rồi gửi qua cho K, K gửi qua cho T2. Tiếp đó, T2 gửi nội dung đặt cược cho K với số tiền 9.500.000 đồng rồi K gửi qua cho K1 để xác nhận việc cá cược. Sau trận Hà Lan với Ba L, T2 nhắn tin cho K gửi tỷ lệ đặt cược trận Đan Mạch với Slovakia ngày 16/6/2024 thì K nói K1 gửi kèo cá cược. Sau khi nhận được tỷ lệ cược Tín đặt số tiền cá cược là 6.000.000 đồng, xong K1 và K đi về. Sau đó, K điều khiển xe mô tô không đội mũ bảo hiểm chở Đào Nguyên Tường V1 là bạn đi chơi đến trước Nhà số E N, phường T thì bị Tổ tuần tra Công an thành phố T dừng xe kiểm tra và phát hiện điện thoại di động của K trong ứng dụng Messenger có nội dung cá cược bóng đá nên đưa về trụ sở làm việc.

Qua truy xét, Công an thành phố T đưa Tạ Minh T2, Trịnh Y K1 về trụ sở làm việc. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Âu Gia K, Tạ Minh T2, Trịnh Y K1 khai nhận toàn bộ hành vi như trên.

Về hình thức đặt cược cá độ bóng đá giữa T2 và K1 do K chuyển tiếp nội dung tin nhắn 02 trận Hà Lan và Ba Lan, trận Đan Mạch với S, cụ thể như sau:

- Trận H và Ba Lan:

Tỷ lệ trận Hà Lan với Ba Lan: “Hà Lan - 1 t88/d94, Tx 2,5 L93; H1: Hà Lan -0,5 t95/d82, Tx 1 L; H2: Hà Lan -0,75 t90/d85, Tx 1,5 t90/x85; Kèo giữa H2: Hà lan -0,25 t80/d90";

Tín đặt cược “500 tài” tức là Tín đặt cược 500.000 đồng tài (tổng số bàn thắng lớn hơn hoặc bằng 3) cả trận. Kết quả T2 thắng 465.000 đồng

Tín đặt cược “1m hà lan, 1m xỉu” tức là Tín đặt cược 1.000.000 đồng cho Hà L1 thắng cả trận, cả trận Hà Lan tỷ số 2-1 so với Ba L nhưng do Hà L1 chấp 01 trái nên kết quả chung cuộc Hà Lan hòa B nên T2 không thắng, không thua kèo này; đặt cược 1.000.000 đồng cho xỉu (tổng số bàn thắng nhỏ hơn hoặc bằng 2) cả trận, kết quả Tín thua 1.000.000 đồng.

Tín đặt cược “H1 Hà lan 3m, H1 dưới (1-0) 1m” tức là Tín đặt cược 3.000.000 đồng cho Hà L1 thắng hiệp 1; đặt cược 1.000.000 đồng cho Ba L thắng hiệp 1 (H Hà Lan hòa Ba Lan tỷ số 1-1). Kết quả T2 thua 4.000.000 đồng.

Tín đặt cược “H2 Hà Lan 2tr” tức là Tín đặt cược 2.000.000 đồng cho Hà L1 thắng hiệp 2. H Hà Lan chấp Ba Lan 0,75 t90/d85. Hiệp 2 tỷ số Hà Lan-Ba Lan: 1-0. Kết quả T2 thắng 900.000 đồng.

Tín đặt cược “Ba lan + 0,25 1tr a95” tức là Tín đặt cược Ba Lan thắng hiệp 2: 1.000.000 đồng (tỷ số Hiệp 2 là 1-0, Hà Lan-Ba Lan). Kết quả T2 thua 1.000.000 đồng.

Trận Hà L1 và Ba L có tỷ số: hiệp 1 tỷ số 1-1; hiệp 2 tỷ số 1-0. Tổng cả trận tỷ lệ 2-1 (Hà Lan-Ba Lan).

Tổng cộng T2 đặt cược 9.500.000 đồng, thua 6.000.000 đồng, thắng 1.365.000 đồng. Cả trận K1 thắng 4.635.000 đồng.

- Trận Đan M1 và S:

Tỷ lệ trận Đan M1 với S1: “Danmar -0,75 t85/d90, Tx 2,25 t95/x80; H1: Danmar -0,25 t85/d90, T3 0,75 t80/x95":

Tín đặt cược “Đan Mạch cả trận 2tr, tài 2tr” tức là Tín đặt cược 2.000.000 đồng Đan Mạch thắng cả trận, đặt cược 2.000.000 đồng tỷ số tài (tổng số bàn thắng lớn hơn hoặc bằng 3) cả trận, kết quả trận đấu tỷ số 1-1. Do đó, T2 thua 4.000.000 đồng.

Tín đặt cược “H1 Đan Mạch 2tr” tức là Tín đặt cược 2.000.000 đồng Đan Mạch thắng hiệp 1. Kết quả T2 thắng 1.700.000 đồng.

Tổng cộng T2 đặt cược 6.000.000 đồng, thua 4.000.000 đồng, thắng 1.700.000 đồng. Cả trận K1 thắng 2.300.000 đồng.

Trận Đan Mạch với S1: hiệp 1 tỷ số 1-0; hiệp 2 tỷ số 0-1. Tổng cả trận tỷ lệ 1-1 (Đan Mạch - Slovakia).

Như vậy, tổng số tiền Tạ Minh T2, Trịnh Y K1 và Âu Gia K đánh bạc dưới hình thức cá độ bóng đá: trận Hà Lan-Ba Lan là 9.500.000 đồng và trận Đan Mạch-Slovakia 6.000.000 đồng.

Vật chứng vụ án:

  • 01 (một) điện thoại di động Iphone; 01 điện thoại di dộng hiệu Oppo A57, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di dộng hiệu Iphone 11 Promax, đã qua sử dụng: Cơ quan điều tra đã chuyển vật chứng đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức tạm giữ, chờ xử lý.

Tại Cáo trạng số: 574/CT-VKSTPTĐ ngày 20/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị các bị cáo Âu Gia K, Trịnh Y K1 và Tạ Minh T2 về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức vẫn giữ quan điểm truy tố đối với các bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Âu Gia K: 09 (chín) tháng đến 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách gấp đôi thời hạn tù.
  • Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trịnh Y K1: 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách gấp đôi thời hạn tù.
  • Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Tạ Minh T2: 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách gấp đôi thời hạn tù.
  • - Về xử lý vật chứng: Đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi theo cáo trạng truy tố và luận tội của Kiểm sát viên, không tranh luận.

Lời nói sau cùng: Các bị cáo đều đã nhận ra lỗi lầm của mình, rất mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo có cơ hội sửa đổi, lao động, học tập để trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Xét trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án này đều đúng pháp luật.

[2] Xét trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi của mình, lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, người liên quan, biên bản tạm giữ, tin nhắn điện thoại đặt cược, vật chứng thu giữ... cùng các tài liệu, chứng cứ mà Cơ quan điều tra đã thu thập được trong quá trình điều tra về hành vi, thời gian, không gian, địa điểm xảy ra tội phạm, phù hợp với cáo trạng của Viện kiểm sát nên có cơ sở xác định: Vào ngày 16/6/2024, tại trước nhà số E N, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, các bị cáo Âu Gia K, Trịnh Y K1 và Tạ Minh T2 bị phát hiện hành vi tham gia đánh bạc ăn thua bằng tiền với nhau dưới hình thức cá độ bóng đá gồm: Trận H-Ba Lan là 9.500.000 đồng và trận Đan Mạch-Slovakia 6.000.000 đồng. Tổng số tiền các bị cáo dùng để đánh bạc là 15.500.000 đồng.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, cố ý vi phạm pháp luật, xâm phạm đến trật tự, nếp sống văn minh của xã hội, làm ảnh hưởng đến trật tự quản lý của nhà nước và là nguy cơ dẫn đến các tệ nạn xã hội khác. Các bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi đánh bạc là tệ nạn xã hội bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vì động cơ vụ lợi, muốn có tiền để tiêu xài nên đã cố ý thực hiện hành vi đánh bạc ăn thua bằng tiền với tổng số tiền dùng vào việc đánh bạc là 15.500.000 đồng. Hành vi của các bị cáo thỏa mãn đầy đủ các yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 321 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Vụ án có đồng phạm nhưng giản đơn, trong đó Tạ Minh T2 và Trịnh Y K1 đánh bạc với nhau thông qua Âu Gia K. Âu Gia K là người kết nối, chuyển thông tin, kèo cá độ, giúp sức cho T2 và K1 cá độ với nhau, tuy nhiên K không hưởng chênh lệch hay thu lợi bất chính.

[3] Về tình tiết định khung hình phạt: Tổng số tiền các bị cáo dùng vào việc đánh bạc là 15.500.000 đồng và không vi phạm tình tiết định khung tăng nặng hình phạt khác nên bị đưa ra xét xử theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với các bị cáo:

Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo cá độ 02 trận bóng đá khác nhau và đủ định lượng truy cứu trách nhiệm hình sự nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Xét trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo Tạ Minh T2 và Trịnh Y K1 đã tự nguyện nộp lại số tiền đánh bạc; bị cáo Âu Gia K hiện đang là Sinh viên Trường đại học H (có xác nhận của T4 đang theo học đại học chính quy khóa học từ tháng 10/2021 đến tháng 10/2025) nên được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội ít nghiêm trọng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo nên không cần thiết cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho các bị cáo được hưởng án treo như đề nghị của Kiểm sát viên cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục, đồng thời thể hiện chính sách khoan hồng của nhà nước và pháp luật, tạo điều kiện cho các bị cáo lao động, học tập để trở thành công dân có ích cho xã hội.

[5] Về hình phạt bổ sung: Khoản 3 Điều 321 của Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Tuy nhiên, xét các bị cáo còn trẻ, không có việc làm ổn định nên Hội đồng xét xử không phạt tiền bổ sung đối với các bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng:

  • Đối với các điện thoại thu giữ của các bị cáo gồm: 01 (một) điện thoại di động Iphone; 01 điện thoại di dộng hiệu Oppo A57, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di dộng hiệu Iphone 11 Promax, đã qua sử dụng: Xét đây là phương tiện các bị cáo dùng vào việc đánh bạc nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
  • Đối với số tiền 15.500.000 đồng là tiền dùng vào việc đánh bạc, các bị cáo K và T2 đã nộp lại nên tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước.

[7] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[8] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Âu Gia K, Trịnh Y K1 và Tạ Minh T2 phạm tội “Đánh bạc”.
  2. Về hình phạt:
    • Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự, Xử phạt bị cáo Âu Gia K: 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm, tính từ ngày tuyên án.
    • Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự, Xử phạt bị cáo Trịnh Y K1: 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 03 (ba) năm, tính từ ngày tuyên án.
    • Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự, Xử phạt bị cáo Tạ Minh T2: 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 03 (ba) năm, tính từ ngày tuyên án.

    Giao bị cáo Âu Gia K cho Ủy ban nhân dân phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách; giao bị cáo Trịnh Y K1 cho Ủy ban nhân dân phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách; giao bị cáo Tạ Minh T2 cho Ủy ban nhân dân phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68 và Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp bị cáo thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người được cho hưởng án treo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 55, Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

  3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự,
    • Tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước:
      • 01 (một) điện thoại di động Iphone (ghi chú: Mặt kính màn hình điện thoại có nhiều vết nứt); (Theo Quyết định chuyển vật chứng số 410/QĐ-VKSTPTĐ ngày 06/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức và Biên bản giao nhận tang tài vật số 076C ngày 18/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức;
      • 01 điện thoại di dộng hiệu Oppo A57, đã qua sử dụng;
      • 01 điện thoại di dộng hiệu Iphone 11 Promax, đã qua sử dụng; (Theo Quyết định chuyển vật chứng số 18/QĐ-VKSTPTĐ ngày 10/12/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức).
    • Sung vào ngân sách nhà nước số tiền 6.000.000 (sáu triệu) đồng do bị cáo Trịnh Y K1 nộp theo Biên lai thu số 0079445 ngày 21/01/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức; số tiền 9.500.000 (chín triệu, năm trăm nghìn) đồng do bị cáo Tạ Minh T2 nộp theo Biên lai thu số 0079467 ngày 22/01/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức.
  4. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

    Buộc các bị cáo Âu Gia K, Trịnh Y K1 và Tạ Minh T2, mỗi bị cáo nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự,

    Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

(Đã giải thích về chế định án treo cho các bị cáo)

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Công an thành phố Thủ Đức;
  • - Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Viện kiểm sát nhân dân Tp. Hồ Chí Minh;
  • - Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức;
  • - Phòng PV06, PC10 - Công an Tp. Hồ Chí Minh;
  • - Sở Tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Anh Ngọc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 65/2025/HS-ST ngày 23/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về đánh bạc

  • Số bản án: 65/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/01/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Âu Gia K và đồng phạm phạm tội "Đánh bạc"
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger