TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án: 65/2025/HS-ST Ngày: 17/6/2025 | BẢN ÁN SƠ THẨM CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trầm Tuấn Kiệt
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Xuân Thảo
Ông Nguyễn Kiên Hiển
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Nhật Vi Phượng – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện VKSND Quận 3, Tp. tham gia phiên tòa:
Ông Lê Đ – Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 3 Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 65/2025/TLST-HS ngày 25 tháng 4 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 90/2025/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo:
Trần Minh K, sinh năm 1992; tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi thường trú : 4 L, Phường A, Quận C, TP .; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Hữu H và bà Mai Thị S; có vợ và 02 người con lớn nhất sinh năm 2017 và nhỏ nhất sinh năm 2019; tiền án: không; tiền sự: không. Nhân thân: Ngày 12/8/2024, Công an Q ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0006445/QĐ-XPHC về hành vi “Trộm cắp tài sản” số tiền 2.500.000 đồng. Đã chấp hành xong việc đóng phạt ngày 12/8/2025. Bị cáo bị áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú” kể từ ngày 30/11/2024 đến nay; (bị cáo có mặt tại phiên tòa).
Người bị hại: Anh Phạm Anh K1, sinh năm 2002 (vắng mặt tại phiên tòa)
Nơi cư trú: 5 Đường số D, phường A, Quận G, TP .
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Bà Nguyễn Thị Kim D, sinh năm 1960 (vắng mặt tại phiên tòa).
Nơi cư trú:1 T, Phường T, Quận T, TP Hồ Chí Minh
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ ngày 24/7/2024, anh Phạm Anh K1 điều khiển xe máy biển số 71B4-562.99 đến gần cột G01 hầm B2 chung cư R tại số G T, Phường A, Quận A gửi xe làm việc và để quên chìa khóa xe máy có gắn 01 bóp cầm tay màu đen trên ổ khóa, bên trong bóp có 15.000 đồng, 01 Căn cước công dân, 01 thẻ ATM ngân hàng V liên kết với tài khoản ngân hàng V số 9969742559 đứng tên anh K1, 01 thẻ ngân hàng số TIMO và 01 thẻ thành viên Emart. Đến khoảng 13 giờ 43 phút cùng ngày, anh K1 phát hiện tài khoản ngân hàng V số 9969742559 của mình phát sinh 05 giao dịch rút tiền (mỗi giao dịch là 3.000.000 đồng) với tổng số tiền là 15.000.000 đồng và 16.500 đồng phí rút tiền. Lúc này, anh K1 đã mở app ngân hàng để khóa thẻ ATM và xuống xe máy để kiểm tra thì phát hiện bị mất trộm chìa khóa xe có gắn 01 bóp cầm tay màu đen trên ổ khóa nên đến Công an Q, Quận A trình báo vụ việc.
Qua truy xét, ngày 25/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q xác định Trần Minh K là người đã thực hiện hành vi trộm cắp chìa khóa xe máy có gắn bóp cầm tay màu đen của anh K1 tại hầm B2 chung cư R S tại số G T, Phường A, Quận A và thực hiện hành vi rút tổng số tiền 15.000.000 đồng trong thẻ ATM ngân hàng V của anh Phạm Anh K1 tại trụ ATM ngân hàng S1 tại địa chỉ số B N, Phường H, Quận C nên đã mời K về trụ sở làm việc. Đồng thời, chuyển hồ sơ kèm tang vật thu giữ cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q1 để xử lý theo thẩm quyền.
Qua đấu tranh, Trần Minh K khai nhận: Sáng ngày 24/7/2024, K đi xin việc tại chung cứ R tại số G T, Phường A, Quận A và gửi xe máy biển số 59D1-703.51 tại tầng hầm B2 của chung cư. Do không xin được việc, K đi xuống tầng hầm B2 gần vị trí cột G01 để lấy xe thì phát hiện xe máy biển số 71B4 - 562.99 có cắm chìa khóa xe, trên chìa khóa xe treo 01 chiếc bóp màu đen. Lúc này, K nảy sinh ý định trộm cắp chiếc bóp đen treo cùng chìa khóa xe cắm trên xe máy biển số 71B4 - 562.99 nên đã tiến lại dùng tay phải lấy trộm bỏ vào túi áo khoác bên trái rồi điều khiển xe máy biển số 59D1-703.51 của mình ra khỏi tầng hầm. Sau đó, K quay về nhà tại địa chỉ số D L, Phường A, Quận C kiểm tra thì phát hiện trong bóp màu đen có 15.000 đồng, 01 thẻ Căn cước công dân mang tên Phạm Anh K1, 01 thẻ ATM ngân hàng V, 01 thẻ ngân hàng S2, 01 giấy phép lấy xe hạng A1 tên Phạm Anh K1, 01 thẻ thành viên Emart. Đến khoảng 13 giờ 45 phút cùng ngày, K điều khiển xe máy đến trụ ATM của ngân hàng S1 địa chỉ số B N, Phường H, Quận C, để rút tiền và do có Căn cước công dân của anh K1 nên K đoán được mật khẩu là ngày tháng năm sinh của anh K1 và dùng thẻ ATM ngân hàng V đứng tên Phạm Anh K1 rút tiền thành công 05 lần, mỗi lần 3.000.000 đồng, tổng cộng 15.000.000 đồng. Sau khi rút tiền xong, K vứt thẻ ATM cùng chìa khóa xe máy của anh K1 vào bãi rác trước địa chỉ B N, Phường V, Quận C rồi đi về nhà. Đối với thẻ Căn cước công dân, giấy phép lái xe hạng A1, thẻ ngân hàng S2 và chiếc bóp đen của anh K1, K bỏ vào trong cốp xe máy biển số 59D1-703.51. Số tiền chiếm đoạt được, K tiêu xài cá nhân hết 7.515.000 đồng, số tiền 7.500.000 đồng còn lại K cất giữ trong người. Đến ngày 25/7/2024, K quay lại chung cứ R tại số G T, Phường A, Quận A để tiếp tục xin việc thì bị Công an Q, Quận A mời về trụ sở làm việc.
Tại Cơ Quan cảnh sát điều tra Công an Q1, Trần Minh K thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên, đồng thời giao nộp lại 01 thẻ Căn cước công dân, 01 thẻ ngân hàng S2, 01 giấy phép lấy xe hạng A1 đứng tên Phạm Anh K1 và 7.500.000 đồng tiền mặt gồm 15 tờ tiền Việt Nam đồng mệnh giá 500.000 đồng. Lời khai của K phù hợp với các tài liệu, chứng cứ mà Cơ quan điều tra đã thu thập thể hiện trong hồ sơ vụ án.
Vật chứng của vụ án:
- 01 điện thoại di động hiệu Xiaomi Redmi màu xanh, số IMEI 1: 867469055479983, số IMEI 2: 067469055479991.
- 01 điện thoại di động hiệu Xiaomi màu xanh, số IMEI 1: 869819056990461, số IMEI 2: 869819056990479.
- 01 xe máy hiệu Yamaha loại Nouvo, biển số 59D1-703.51, số máy: 5P11-248701, số khung: RLCN110AY-248700, tình trạng đã qua sử dụng. Qua xác minh, xe máy trên do chị Nguyễn Thị Kim D đứng tên chủ sở hữu.
- 01 chứng nhận đăng ký xe biển số 59D1-703.51 mang tên Nguyễn Thị Kim D, số đăng ký: 075457.
- 01 áo khoác màu đen, 01 quần dài màu đen, 01 mũ bảo hiểm màu xanh.
- Tiền mặt 7.500.000 đồng gồm 15 tờ tiền Việt Nam đồng mệnh giá 500.000 đồng (đã nộp vào tài khoản Ngân hàng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an T). Đây là số tiền K chưa tiêu xài hết sau khi chiếm đoạt của anh K1.
- 01 bóp màu đen, 01 thẻ màu đen có chữ Timo Phạm Anh K1, 01 thẻ thành viên Emart, 01 giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Phạm Anh K1, 01 thẻ Căn cước công dân mang tên Phạm Anh K1. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã trả lại cho anh Phạm Anh K1 vào ngày 12/8/2024.
Về yêu cầu dân sự: Ngày 25/7/2024, anh Phạm Anh K1 và gia đình bị cáo Trần Minh K đã thỏa thuận bồi thường số tiền 16.500.000 đồng, anh K1 đã nhận số tiền bồi thường trên và không có yêu cầu gì khác và làm đơn bãi nại cho K.
Tại bản cáo trạng số 62/CT-VKS-Q3 ngày 25/4/2025, Viện kiểm sát nhân dân Quận 3 đã truy tố bị cáo Trần Minh Khanh về tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 290 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa hôm nay :
Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã nêu. Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Người bị hại anh Phạm Anh K1 (vắng mặt tại phiên tòa).
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Kim D (vắng mặt)
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 3 đề nghị xử phạt bị cáo K từ 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) tháng tù giam về tội “ Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”; Tịch thu và hủy: 01 áo khoác màu đen, 01 quần dài màu đen, 01 mũ bảo hiểm màu xanh; giao trả cho bị cáo 01 điện thoại di động hiệu Xiaomi Redmi màu xanh, số IMEI 1: 867469055479983, số IMEI 2: 067469055479991, 01 điện thoại di động hiệu Xiaomi màu xanh, số IMEI 1: 869819056990461, số IMEI 2: 869819056990479.
Giao trả cho chị Nguyễn Thị Kim D 01 xe máy hiệu Yamaha loại Nouvo, biển số 59D1-703.51, số máy: 5P11-248701, số khung: RLCN110AY-248700, 01 chứng nhận đăng ký xe biển số 59D1-703.51 mang tên Nguyễn Thị Kim D, số đăng ký: 075457.
Trả lại cho bị cáo số tiền 7.500.000 đồng gồm 15 tờ tiền Việt Nam đồng mệnh giá 500.000 đồng (đã nộp vào tài khoản Ngân hàng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an T) do bị cáo đã bồi thường toàn bộ số tiền chiếm đoạt cho bị hại.
Về trách nhiệm dân sự: gia đình bị cáo K đã thỏa thuận bồi thường cho bị hại Phạm Anh K1 số tiền 16.500.000 đồng và bị hại không có yêu cầu gì thêm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Quá trình điều tra, truy tố của Cơ quan điều tra Công an Q1, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 3, kiểm sát viên đã thực hiện các hành vi, quyết định tố tụng đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo Bộ luật tố tụng hình sự qui định. Quá trình điều tra bị cáo, bị hại cũng không có bất cứ ý kiến hoặc khiếu nại gì về các hành vi, quyết định của Cơ quan tố tụng cũng như người tiến hành tố tụng. Vì vậy có cơ sở xác định các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với các lời khai tại cơ quan điều tra; phù hợp với nội dung Biên bản tiếp nhận nguồn tin tội phạm ngày 24/7/2024 của Công an phường Q (BL50); phù hợp nội dung các lời khai của bị hại, nhân chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập trong quá trình điều tra. Vì vậy đã có đủ cơ sở kết luận như sau: Vào ngày 24/7/2025, tại tầng hầm B2 chung cư R tại số G T, Phường A, Quận A, K đã lợi dụng sơ hở, thiếu cảnh giác của anh Phạm Anh K1 để trộm cắp 01 bóp cầm tay màu đen trên ổ khóa xe máy biển số 71B4-562.99, bên trong bóp có 15.000 đồng, 01 thẻ Căn cước công dân, 01 thẻ ATM ngân hàng V (không nhớ số thẻ) liên kết với tài khoản ngân hàng V số 9969742559 đứng tên anh K1, 01 thẻ ngân hàng số TIMO và 01 thẻ thành viên Emart. Sau đó, K đoán mật khẩu thẻ ATM ngân hàng V của anh K1 rồi đến trụ ATM ngân hàng S1 tại địa chỉ số B N, Phường H, Quận C thực hiện 05 lần rút tiền với tổng số tiền là 15.000.000 đồng
Đối với hành vi trộm cắp 01 bóp cầm tay màu đen, bên trong bóp có 15.000 đồng, 01 thẻ Căn cước công dân, 01 thẻ ATM ngân hàng V (không nhớ số thẻ) liên kết với tài khoản ngân hàng V số 9969742559 đứng tên anh K1, 01 thẻ ngân hàng số TIMO và 01 thẻ thành viên Emart tại tầng hầm B2 chung cư R tại số G T, Phường A, Quận A của K, do chưa đủ định lượng để xử lý về tội “Trộm cắp tài sản” nên Cơ quan điều tra không xử lý hình sự là có căn cứ. Cơ quan Công an Q đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với K về hành vi trộm cắp tài sản trên.
[3] Xét, bị cáo có nhân thân xấu, biết rõ hành vi trộm cắp tài sản của người khác là sai trái, vi phạm pháp luật và bị cáo K biết rõ hành vi trộm cắp tài sản và sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản là vi phạm pháp luật nhưng vì lòng tham nên các bị cáo vẫn bất chấp xem thường sự trừng trị của pháp luật cố ý thực hiện việc phạm tội. Hành vi do bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã không chỉ trực tiếp xâm phạm đến tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất trật tự trị an ở địa phương.
[4] Căn cứ từ các yếu tố nêu trên, đã có đủ cơ sở kết luận: bị cáo đã đã lợi dụng sơ hở, thiếu cảnh giác của anh Phạm Anh K1 để trộm cắp 01 bóp cầm tay màu đen trên ổ khóa xe máy biển số 71B4-562.99, bên trong bóp có 15.000 đồng, 01 thẻ Căn cước công dân, 01 thẻ ATM ngân hàng V (không nhớ số thẻ) liên kết với tài khoản ngân hàng V số 9969742559 đứng tên anh K1, 01 thẻ ngân hàng số TIMO và 01 thẻ thành viên Emart. Sau đó, K đoán mật khẩu thẻ ATM ngân hàng V của anh K1 rồi đến trụ ATM ngân hàng S1 tại địa chỉ số B N, Phường H, Quận C thực hiện 05 lần rút tiền với tổng số tiền là 15.000.000 đồng là đã phạm tội “sử mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 290 Bộ luật Hình sự. Vì vậy cần phải có mức án nghiêm khắc mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo. Tuy nhiên khi lượng hình cũng cần xem xét về nhân thân những tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo để có mức hình phạt tương xứng với hành vi của bị cáo gây ra.
[5] Tuy nhiên cũng xét, tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo K đã thành khẩn khai báo, thể hiện thái độ ăn năn, hối lỗi, phạm tội lần và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; gia đình bị cáo K đã bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b,i,s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6] Từ những cơ sở trên, nghĩ cần căn cứ Điều 50 Bộ luật Hình sự quy định về căn cứ quyết định hình phạt, Điều 38 Bộ luật Hình sự quy định về tù có thời hạn; áp dụng điểm a khoản 1 Điều 290 Bộ luật Hình sự quy định về khung hình phạt áp dụng; áp dụng các điểm b,i,s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để quyết định một hình phạt tương xứng với tính chất mức độ phạm tội của bị cáo.
[7] Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 áo khoác màu đen, 01 quần dài màu đen, 01 mũ bảo hiểm màu xanh là phương tiện bị cáo sử dụng khi phạm tội không còn giá trị sử dụng nghĩ nên tịch thu và tiêu hủy.
Đối với 01 điện thoại di động hiệu Xiaomi Redmi màu xanh, số IMEI 1: 867469055479983, số IMEI 2: 067469055479991 và 01 điện thoại di động hiệu Xiaomi màu xanh, số IMEI 1: 869819056990461, số IMEI 2: 869819056990479 không liên quan vụ án nghĩ nên giao trả cho bị cáo.
Đối với 01 xe máy hiệu Yamaha loại Nouvo, biển số 59D1-703.51, số máy: 5P11-248701, số khung: RLCN110AY-248700 và 01 chứng nhận đăng ký xe biển số 59D1-703.51 mang tên Nguyễn Thị Kim D, số đăng ký: 075457 không liên quan vụ án nghĩ nên giao trả cho chị Nguyễn Thị Kim D
Đối với số tiền 7.500.000 đồng gồm 15 tờ tiền Việt Nam đồng mệnh giá 500.000 đồng (đã nộp vào tài khoản Ngân hàng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an T) do bị cáo đã bồi thường toàn bộ số tiền chiếm đoạt cho bị hại nghĩ nên giao trả lại cho bị cáo
[9] Trách nhiệm dân sự: gia đình bị cáo Trần Minh K đã thỏa thuận bồi thường cho bị hại Phạm Anh K1 số tiền 16.500.000 đồng (mười sáu triệu năm trăm ngàn đồng) và bị hại không có yêu cầu gì thêm do đó Hội đồng xét xử không xem xét.
[10] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 3 tại phiên tòa là phù hợp tính chất, mức độ phạm tội, phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử, nghĩ nên chấp nhận.
[11] Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Luật phí và lệ phí năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 38; Điều 50; điểm a khoản 1 Điều 290; điểm b,i,s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với Trần Minh K.
Căn cứ điểm a khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Điều 47 Bộ luật Hình sự.
Căn cứ các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Luật phí và lệ phí năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Căn cứ các Điều 331, 333, 336 và Điều 337 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Trần Minh K đã phạm tội “ Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”
Xử phạt : Trần Minh K 09 (chín) tháng tù giam. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án.
Tịch thu và hủy: 01 áo khoác màu đen, 01 quần dài màu đen, 01 mũ bảo hiểm màu xanh.
Giao trả cho bị cáo 01 điện thoại di động hiệu Xiaomi Redmi màu xanh, số IMEI 1: 867469055479983, số IMEI 2: 067469055479991 và 01 điện thoại di động hiệu Xiaomi màu xanh, số IMEI 1: 869819056990461, số IMEI 2: 869819056990479.
Giao trả cho chị Nguyễn Thị Kim D 01 xe máy hiệu Yamaha loại Nouvo, biển số 59D1-703.51, số máy: 5P11-248701, số khung: RLCN110AY-248700, 01 chứng nhận đăng ký xe biển số 59D1-703.51 mang tên Nguyễn Thị Kim D, số đăng ký: 075457.
Giao trả cho bị cáo số tiền 7.500.000 đồng (bảy triệu năm trăm ngàn đồng) gồm 15 tờ tiền Việt Nam đồng mệnh giá 500.000 đồng, theo giấy nộp tiền vào tài khoản Ngân hàng V1 ngày 28/3/2025 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an T.
(Tài sản tịch thu và tiêu hủy, giao trả được ghi trong Lệnh nhập kho vật chứng số 4678/LNK ngày 29/3/2025 của Cơ Quan Cảnh sát điều tra Công an Q1).
Buộc bị cáo chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân Tp. Hồ Chí Minh trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân Tp. Hồ Chí Minh trong trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án, hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Nơi nhận :
| T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trầm Tuấn Kiệt |
Bản án số 65/2025/HS-ST ngày 17/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự (sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản)
- Số bản án: 65/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Minh Khanh - "Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản"
