TAND HUYỆN MƯỜNG TÈ TỈNH LAI CHÂU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do– Hạnh phúc |
Bản án số: 65/2025/HS-ST
Ngày: 27-3-2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ, TỈNH LAI CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Đới Xuân Huy |
| Các Hội thẩm nhân dân: | - Ông Nguyễn Công Đại |
| - Bà Đao Thanh Loan |
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Kiến Thắng - Kiểm sát viên.
Trong ngày 27 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường Tè tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 63/2025/TLST-HS ngày 24 tháng 02 năm 2025. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 65/2025/QĐXXST- HS ngày 12/3/2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Pờ M - Sinh năm 1992.
Nơi cư trú: Bản M, xã P, huyện M, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: La Hủ; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Pờ Khừ X - sinh năm 1969 và bà Phản Hu X1 (Đã chết); Bị cáo có vợ là Ky Giồ L và 03 con; Con lớn nhất đã chết, con nhỏ nhất sinh năm 2021; Gia đình bị cáo có 03 chị em, bị cáo là con thứ ba trong gia đình; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo là đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam, đã bị đình chỉ sinh hoạt Đảng theo Quyết định số: 164-QĐ/UBKTHU ngày 19/11/2024 của Ủy ban kiểm tra Huyện ủy M2.
Bị cáo ra tự thú và bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/11/2024 cho đến nay (Có mặt).
- Các bị hại:
- Bà Phản Na X2 - sinh năm 1996. (Vắng mặt)
Địa chỉ: Bản M, xã P, huyện M, tỉnh Lai Châu. - Ông Phản Hu C - sinh năm 1966. (Vắng mặt)
Địa chỉ: Bản M, xã P, huyện M, tỉnh Lai Châu.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Cà Văn Q - sinh năm 1989. (Vắng mặt)
Địa chỉ: Bản M, xã P, huyện M, tỉnh Lai Châu.
- Những người làm chứng:
- Chị Phản Mỳ L1 - sinh năm 1994. (Vắng mặt)
Địa chỉ: Bản M, xã P, huyện M, tỉnh Lai Châu. - Ông Pờ Mò L2 - sinh năm 1980. (Vắng mặt)
Địa chỉ: Bản M, xã P, huyện M, tỉnh Lai Châu. - Chị Pờ Ky X3 - sinh năm 1999 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Bản M, xã P, huyện M, tỉnh Lai Châu.
- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Trần Thị Bích N - Luật sư ký hợp đồng trợ giúp viên pháp lý với Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh L (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 07 giờ 30 phút ngày 08/11/2024, sau khi đưa con đi học về, Pờ M đến nhà ông Phản H Chờ với mục đích trộm cắp tài sản. Thấy nhà ông C không có ai trông coi, cửa chính đã khóa bên ngoài, H1 di chuyển về phía cửa bếp. Thấy cửa bếp đang cài chốt bên trong, H1 luồn hai ngón tay trái qua khe hở, đẩy chốt mở cửa rồi đột nhập vào trong.
Khi vào trong bếp, H1 đi lên nhà chính và phát hiện một chiếc két sắt nhãn hiệu Việt Tiệp (Size 35, màu ghi, cánh cửa màu vàng) đặt ở cuối giường ngủ. Cho rằng bên trong có tiền nhưng không có chìa khóa để mở, H1 quay lại bếp lấy một con dao phay màu tím nhạt và một thanh sắt phi 6 để cạy phá két, nhưng không thành công. Do lo sợ bị phát hiện, H1 bỏ dao và thanh sắt lại, sau đó dùng hai tay vần chiếc két ra ngoài theo hướng cửa bếp, đẩy xuống taluy âm cách nhà ông C khoảng 30 m, rồi tiếp tục giấu vào bụi cây.
Sau đó, H1 quay lại bếp nhà ông C lấy một con dao móc lưỡi liềm (dài khoảng 10 cm) để tiếp tục phá két nhưng vẫn không thành công. Hừ về nhà lấy thêm một con dao quắm (dài 75 cm), rồi quay lại dùng cả hai con dao đục một lỗ phía mặt sau của két sắt, sau đó thò ngón tay vào lấy số tiền 48.000.000 đồng bên trong.
Sau khi trộm được tiền, H1 giấu con dao quắm vào rãnh nước ven đường, còn con dao móc lưỡi liềm thì ném vào bụi cây cạnh nhà văn hóa bản M3. Sau đó, H1 đi bộ đến quán tạp hóa của anh Cà Văn Q dùng tờ tiền 500.000 đồng từ số tiền trộm cắp để mua hàng hết 40.000 đồng, số tiền thừa anh Q trả lại cho H1 cất vào túi quần. Tiếp theo, H1 đi bộ đến lán nương của Vàng M, đào một hố bên cạnh gốc cây dứa, chôn số tiền 47.500.000 đồng còn lại rồi phủ lá cây lên để đánh dấu vị trí cất giấu. Sau đó, H1 đi về nhà chị gái là Pờ Mò L2, tại đây H1 gặp cháu họ là Phản Mỳ L1 (sinh năm 1994) và Pờ Hùng Q1 (sinh năm 2022), H1 đã cho L1 50.000 đồng và cho cháu Q1 10.000 đồng.
Khoảng 09 giờ 30 phút cùng ngày, H1 quay lại chỗ cất giấu con dao quắm, lấy đem về nhà. Đến 12 giờ 30 phút, nhận thấy hành vi của mình không thể che giấu được, H1 đến Công an xã P, huyện M tự thú về hành vi phạm tội, đồng thời dẫn lực lượng chức năng đến lán nương của Vàng M thu giữ số tiền 47.500.000 đồng do phạm tội mà có và giao nộp con dao quắm công cụ thực hiện hành vi phạm tội.
Quá trình điều tra xác định, chiếc két sắt Việt T mà H1 phá để trộm tiền là của chị Phản Na X2 gửi tại nhà bố đẻ là ông Phản Hu C. Số tiền 48.000.000 đồng mà Pờ Mô Hừ trộm cắp là tài sản chung của ông C và chị X2 (trong đó của chị X2 là 28.000.000 đồng, của ông C là 20.000.000 đồng).
Tại kết luận định giá tài sản số 15/KL-HĐĐGTS ngày 12/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện M đã kết luận: 01 (một) chiếc két sắt Việt Tiệp Size 35 mà Pờ Mô H1 đã phá để trộm tiền có trị giá là 759.375 đồng.
Tại bản cáo trạng số: 21/CT-VKS-MT ngày 24/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè đã truy tố bị cáo Pờ Mô H1 về tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố phân tích các tài liệu chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 173; điểm i, r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự. Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Tuyên bố bị cáo Pờ Mô H1 phạm tội "Trộm cắp tài sản". Xử phạt bị cáo Pờ M Hừ mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Miễn án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự tịch thu tiêu hủy: 01 két sắt nhãn hiệu Việt Tiệp Size 35, màu ghi xanh, cánh cửa màu vàng; 01 (một) thanh sắt phi 6, dài 15 cm đã bị uốn cong; 01 (một) phong bì bên trong có tờ giấy màu trắng, loại giấy kẻ ngang; 01 (một) con dao quắm cán gỗ dài 75 cm, lưỡi dao dài 25 cm; 01 con dao phay màu tím nhạt có tổng chiều dài 29 cm, lưỡi dao dài 17 cm có chữ "JAPAN"; 01 túi nilon màu trắng; 01 tấm bạt nilon màu trắng.
Tại phiên tòa người bào chữa cho bị cáo vắng mặt có gửi bài bào chữa trình bày: nhất trí với nội dung, quyết định truy tố. Không có ý kiến tranh luận về tội danh, điều luật, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ cũng như xử lý vật chứng, các biện pháp tư pháp mà Kiểm sát viên đã đề nghị. Tuy nhiên người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử xem xét việc bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất của khung hình phạt, không áp dụng hình phạt bổ sung và miễn án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng, đồng ý với quan điểm của người bào chữa và không có ý kiến tranh luận đối với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè.
Các bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều có đơn xin xét xử vắng mặt không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì.
Tại lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện M, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè, Điều tra viên, Kiểm sát viên, người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2]. Về tính chất, mức độ, hành vi của bị cáo:
Xét lời khai nhận của bị cáo Pờ Mô H1 tại phiên tòa ngày hôm nay phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án cũng như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu đã truy tố.
Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 08/11/2024, Pờ M đã lợi dụng sơ hở đột nhập vào nhà ông Phản H Chờ tại bản Mô Chi, xã P, huyện M, tỉnh Lai Châu. Sau đó, di chuyển chiếc két sắt nhãn hiệu Việt Tiệp (S) mà chị Phản Na X2 gửi tại nhà ông C đến vị trí cách đó khoảng 30 m, rồi cạy phá và lấy trộm số tiền 48.000.000 đồng. Đây là số tiền chung của chị Phản Na X2 và ông Phản Hu C, trong đó chị X2 có 28.000.000 đồng, còn ông C có 20.000.000 đồng.
Bị cáo Pờ Mô H1 có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Hành vi nêu trên của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp quyền sở hữu tài sản của người khác, ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội trên địa bàn. Bị cáo biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi cạy phá chiếc két sắt và lấy trộm số tiền 48.000.000 đồng đã đủ yếu tố cấu thành tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Vì vậy quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, mức hình phạt và các vấn đề khác liên quan là hoàn toàn có cơ sở, đúng quy định của pháp luật cần chấp nhận.
Quan điểm của người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng mức án thấp nhất của khung hình phạt: Hội đồng xét xử nhận thấy bị cáo đang là đảng viên Đ mà không gương mẫu thực hiện các chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Bị cáo là người nghiện chất ma túy nên cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian đủ để bị cáo cai nghiện, trở thành công dân có ích cho xã hội. Quan điểm của người bào chữa không được chấp nhận.
[3] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự nhưng bị cáo là người nghiện chất ma túy.
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm Hình sự theo khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm Hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Sau khi phạm tội bị cáo đã đến Công an huyện M để tự thú, tự mình nhận tội trong khi chưa ai phát hiện được bị cáo phạm tội. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở nơi có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên Hội đồng xét xử cần áp dụng cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, r, s khoản 1, khoản 2 điều 51 BLHS.
Tuy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nhưng bị cáo đang là đảng viên Đ mà không gương mẫu thực hiện các chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Bị cáo là người nghiện chất ma túy nên Hội đồng xét xử xét thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ sức răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho xã hội, tránh xa ma túy.
[4]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa, xét thấy bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, gia đình thuộc diện hộ nghèo. Vì vậy, Hội đồng xét xử xem xét không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[5]. Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa các bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều có đơn xin xét xử vắng mặt, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
[6]. Về vật chứng của vụ án:
Đối với số tiền 48.000.000 đồng, đây là số tiền hợp pháp của chị Phản Na X2 và ông Phản Hu C. Việc cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho bị hại là phù hợp với quy định của pháp luật.
01 két sắt nhãn hiệu Việt Tiệp Size 35, màu ghi xanh, cánh cửa màu vàng đã bị hủy hoại, không còn giá trị sử dụng, bị hại không có nhu cầu xin lại nên cần tịch thu để tiêu hủy. 01 thanh sắt phi 6, dài 15 cm đã bị uốn cong; 01 phong bì bên trong có tờ giấy màu trắng, loại giấy kẻ ngang; 01 con dao quắm cán gỗ dài 75 cm, lưỡi dao dài 25 cm; 01 con dao phay màu tím nhạt có tổng chiều dài 29 cm, lưỡi dao dài 17 cm có chữ "JAPAN"; 01 túi nilon màu trắng; 01 tấm bạt nilon màu trắng. Các vật chứng đều không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu để tiêu hủy.
[7]. Về những vấn đề khác:
Đối với hành vi hủy hoại chiếc két sắt của P Mô Hừ: Do chiếc két sắt chỉ có giá trị 759.375 đồng, hành vi của bị cáo không thuộc bất kỳ trường hợp nào quy định từ điểm a đến điểm đ khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự. Vì vậy không đủ yếu tố cấu thành tội "hủy hoại tài sản", Cơ quan điều tra ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Quá trình điều tra, Pờ Mô H1 khai rằng sau khi trộm cắp tiền của chị Phản Na X2 và ông Phản Hu C, H1 đã đưa cho chị gái là Pờ M1 Lơ số tiền 400.000 đồng để sang nhà Pờ Ky X3 mua hộ heroine về sử dụng. Tuy nhiên, X3 và L2 không thừa nhận. Ngoài lời khai của H1, quá trình điều tra không thu thập được chứng cứ nào khác để chứng minh. Do đó, không có đủ căn cứ để xử lý hành vi mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy của X3, L2 và H1.
Đối với việc Pờ Mô H1 sử dụng tiền trộm cắp để mua hàng của Cà Văn Q và cho các cháu Phản Mỳ L1, Pờ H. Quá trình điều tra xác định những người này không biết đó là tiền do trộm cắp mà có. Do đó, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là đúng quy định.
[8]. Về án phí: Xét thấy bị cáo là người dân tộc thiểu số, gia đình bị cáo thuộc diện hộ nghèo. Nên cần miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 173; điểm i, r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điều 46; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự. Điểm a, c khoản 2 Điều 106; Khoản 2 Điều 135; Khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
- Tuyên bố bị cáo Pờ Mô H1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Xử phạt bị cáo Pờ Mô H1 02 năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 08/11/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 két sắt nhãn hiệu Việt Tiệp Size 35, màu ghi xanh, cánh cửa màu vàng; 01 thanh sắt phi 6, dài 15 cm đã bị uốn cong; 01 phong bì bên trong có tờ giấy màu trắng, loại giấy kẻ ngang; 01 con dao quắm cán gỗ dài 75 cm, lưỡi dao dài 25 cm; 01 con dao phay màu tím nhạt có tổng chiều dài 29 cm, lưỡi dao dài 17 cm có chữ "JAPAN"; 01 túi nilon màu trắng; 01 tấm bạt nilon màu trắng.
(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện M với Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Mường Tè được lập vào hồi 10 giờ 30 phút ngày 28 tháng 02 năm 2025) - Án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo bản án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đới Xuân Huy |
Bản án số 65/2025/HS-ST ngày 27/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ, TỈNH LAI CHÂU về trộm cắp tài sản (vụ án hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 65/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Vụ án hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ, TỈNH LAI CHÂU
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ....
