|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA Bản án số: 65/2025/HS-ST Ngày 24-3-2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Quản Hữu Chiến.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Duy Dũng.
- Bà Bùi Thị Đào.
Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Đà Giang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Ngô Xuân Vĩnh - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 3 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 69/2025/TLST - HS ngày 27 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 68/2025/QĐXXST- HS ngày 13 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:
Lò Văn K; sinh ngày 01 tháng 6 năm 1987, sinh tại: Huyện M, tỉnh Sơn La; NĐHKTT: Tổ dân phố C, phường C, thị xã M, tỉnh Sơn La. Nghề nghiệp: Lao dộng tự do; trình độ văn hoá: 6/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lò Văn K1, sinh năm 1965 và bà Vì Bích T, sinh năm 1969; bị cáo có vợ Lường Thị L, sinh năm 1989 (đã ly hôn) và 01 con (sinh năm 2010). Tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/12/2024 đến ngày 12/02/2025 được áp dụng biện pháp bảo lĩnh. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 12 giờ 00 ngày 16/12/2024, tổ công tác Công an huyện M làm nhiệm vụ tại khu vực tiểu khu B, thị trấn N, huyện M (Nay là tổ dân phố T, phường C, thị xã M) phát hiện bắt quả tang Lò Văn K, sinh năm 1987, trú tại tiểu khu C, thị trấn N, huyện M (Nay là tổ dân phố C, phường C, thị xã M) đang mang theo 01 khẩu súng có chiều dài 107 cm và 01 gói nilon màu trắng bên trong chứa chất bột màu đen. K khai nhận là súng kíp và thuốc nổ đen để săn bắn chuột. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Lò Văn K và thu giữ vật chứng theo quy định của pháp luật.
Vật chứng thu giữ: 01 gói nilon màu trắng bên trong chứa một lượng chất bột màu đen nghi là thuốc nổ đen và 01 khẩu súng màu đen nghi là súng săn.
Cùng ngày 16/12/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện M tiến hành bóc mở niêm phong cân tịnh, xác định khối lượng, lấy mẫu giám định: Chất bột màu đen có khối lượng 43,216 gam trích 12,906 gam làm mẫu giám định.
Tại Bản kết luận giám định số: 8571/KL-KTHS ngày 17/12/2024 của Phòng K2 Công an Thành phố H kết luận: “Chất bột màu đen bên trong 01 gói nilong màu trắng là Thuốc nổ đen, khối lượng: 43,216 gam: Thuốc nổ đen là thuốc nổ yếu thường được dùng làm liều phóng trong các loại đạn, trong dây cháy chậm và thuộc nhóm vật liệu nổ, hiện đang còn sử dụng được”.
Ngày 16/12/2024, Cơ quan Cánh sát điều tra Công an huyện M đã có Quyết định trưng cầu giám định số 1694/QĐ-ĐCSHS ngày 16/12/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh S giám định khẩu súng kíp.
Tại Bản kết luận giám định số: 85/KL-KTHS ngày 17/12/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh S kết luận “Khẩu súng gửi giám định là súng kíp; thuộc súng săn: súng vẫn còn sử dụng để bắn được”.
Quá trình điều tra Lò Văn K khai nhận:
Khoảng tháng 11/2024, Lò Văn K đi làm nương tại khu vực đồi thuộc tiểu khu bản Ô, thị trấn N thì thấy một khẩu súng kíp và một gói nilon màu trắng bên trong đựng thuốc nổ đen giấu ở bụi cây ven sườn đồi. Quan sát xung quanh không có người quản lý, K mang khẩu súng cùng túi thuốc nổ đen về nhà. Khoảng 11 giờ ngày 16/12/2024, K cầm theo khẩu súng và số thuốc nổ trên đi vào rừng thuộc địa phận tiểu khu bản Ôn nhằm mục đích săn, bắn chuột, trên đường di chuyển thì bị tổ công tác Công an huyện M phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng.
Nguồn gốc 43,216 gam thuốc nổ đen, thuộc nhóm vật liệu nổ. Lò Văn K khai nhặt được tại khu vực tiểu khu bản Ô, thị trấn N, huyện M. Do vậy ngoài lời khai của bị can, Cơ quan điều tra không có căn cứ mở rộng điều tra xác minh.
Đối với hành vi tàng trữ 01 khẩu súng thuộc loại súng săn, Lò Văn K khai nhận do nhặt được, tàng trữ nhằm mục đích sử dụng để săn bắn. Ngày 02/01/2025 UBND huyện M đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 02/QĐ-XPHC sđối với Lò Văn K về hành vi Tàng trữ súng săn trái phép, theo quy định tại điểm d khoản 4 Điều 11 Nghị định số 144/2021-NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ về quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, xử phạt bằng hình thức phạt tiền 15.000.000 đồng (Lò Văn K đã nộp phạt ngày 07/01/2025). Ngày 02/01/2025, Cơ quan huyện M đã lập Biên bản số 66/BB-TT tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đối với 01 khẩu súng săn, bàn giao cho Đội Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Công an huyện M tiêu hủy theo quy định.
Do có hành vi nêu trên, tại bản cáo trạng số 27/CT-VKS-P1 ngày 26/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La đã truy tố bị cáo Lò Văn K về tội Tội tàng trữ trái phép vật liệu nổ quy định tại khoản 1 Điều 305 Bộ luật Hình sự.
* Tại phiên tòa:
- Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố về tội danh và Điều luật áp dụng đối với bị cáo như cáo trạng đã quy kết và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Lò Văn K phạm tội: Tội tàng trữ trái phép vật liệu nổ.
Áp dụng khoản 1 Điều 305, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự 2015, xử phạt bị cáo Lò Văn K từ 12 đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 36 tháng. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về vật chứng: Đề nghị giao cho Bộ chỉ huy quân sự tỉnh S tiếp nhận, xử lý đối với 30,31 gam thuốc nổ đen.
- Bị cáo Lò Văn K thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng và luận tội của Viện kiểm sát đã quy kết và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bị cáo lần đầu phạm tội, có nơi cư trú rõ ràng nên xin được giảm nhẹ hình phạt và cho mức hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên trong quá trình điều tra; Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo Lò Văn K:
Tại phiên tòa bị cáo Lò Văn K khai nhận toàn bộ hành vi của mình. Lời khai nhận của bị cáo về thời gian, địa điểm và diễn biến hành vi thống nhất, phù hợp với nhau, phù hợp với các chứng cứ khác như:
- Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 12 giờ 00 phút ngày 16/12/2024 do tổ công tác Công an huyện M làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát đảm bảo ANTT tại tiểu khu B, thị trấn N, huyện M, tỉnh Sơn La (nay là tổ dân phố T, phường C, thị xã M) phát hiện, bắt quả tang Lò Văn K mang theo một khẩu súng. Tổ công tác tiến hành kiểm tra và yêu cầu giao nộp, K tự giác lấy 01 gói nilon màu trắng bên trong chứa một lượng chất bột màu đen và khẩu súng đang mang theo người; K khai nhận là súng kíp nhặt được từ tháng 11 năm 2024.
- Kết luận giám định số: 8571/KL-KTHS ngày 17/12/2024 của Phòng K2 Công an Thành phố H kết luận: “Chất bột màu đen bên trong 01 gói nilong màu trắng là Thuốc nổ đen, khối lượng: 43,216 gam: Thuốc nổ đen là thuốc nổ yếu thường được dùng làm liều phóng trong các loại đạn, trong dây cháy chậm và thuộc nhóm vật liệu nổ, hiện đang còn sử dụng được”.
- Kết luận giám định số: 85/KL-KTHS ngày 17/12/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh S kết luận “Khẩu súng gửi giám định là súng kíp; thuộc súng săn: súng vẫn còn sử dụng để bắn được”.
Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Trong thời gian từ tháng 11/2024 đến ngày 16/12/2024 Lò Văn K đã cất giữ trái phép 43,216 gam thuốc nổ và 01 (một) khẩu súng kíp tại nơi ở thuộc tiểu khu B, thị trấn N, huyện M (Nay là tổ dân phố T, phường C, thị xã M) mục đích cất giữ để săn bắn chuột. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép vật liệu nổ được quy định tại khoản 1 Điều 305 Bộ luật Hình sự có mức phạt từ 01 năm đến 05 năm tù.
[3] Về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[3.1] Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
[3.2] Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở địa bàn sinh sống ở khu vực miền núi, người dân có thói quen săn bắn nên không có thu nhập ổn định và hiểu biết pháp luật còn hạn chế. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[4] Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội:
Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng đã trực tiếp xâm phạm quy định độc quyền của Nhà nước về chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán và quản lý các vật liệu nổ. Xét thấy, khối lượng chất nổ bị cáo tàng trữ không nhiều (43,216 gam thuốc nổ); bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bị cáo có nhân thân tốt, nơi cư trú rõ ràng có đủ điều kiện áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo hưởng án treo. Việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự an toàn xã hội. Do vậy, cần chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát về hình phạt cho bị cáo hưởng án treo là có căn cứ; đảm bảo việc giáo dục bị cáo và công tác phòng, chống tội phạm tại địa phương.
[5] Về hình phạt bổ sung:
Ngoài hình phạt chính, bị cáo còn có thể phải chịu hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 304 Bộ luật Hình sự. Xét thấy bị cáo là lao động chính trong gia đình, không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Về nguồn gốc số vật liệu nổ thu giữ trong vụ án bị cáo khai nhận nhặt được trong bụi cây ở sườn đồi, ngoài lời khai của bị cáo không có tài liệu, chứng cứ khác chứng minh nguồn gốc của số vật liệu nổ thu giữ trong vụ án, do vậy không có căn cứ để xác minh, mở rộng điều tra.
[7] Về vật chứng của vụ án:
Đối với 30,31 kg thuốc nổ đen còn lại sau khi trích mẫu giám định (đã niêm phong đúng quy định pháp luật), cần tịch thu sung công, giao cho Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh S xử lý (quản lý và sử dụng) theo thẩm quyền.
Đối với khẩu súng kíp đã được Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện M (nay là thị xã M) bàn giao cho Đội Cảnh sát QLHC về TTXH Công an thị xã M quản lý, xử lý theo quy định.
[8] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Lò Văn K phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 305; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Lò Văn K phạm tội: Tàng trữ trái phép vật liệu nổ.
Xử phạt bị cáo Lò Văn K 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách 24 (hai mươi tư) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 24/3/2025).
Giao bị cáo Lò Văn K cho Ủy ban nhân dân phường C, thị xã M, tỉnh Sơn La giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 86, Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Lò Văn K cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp bị cáo thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định của Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
2. Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Điều 64, Điều 66, Điều 73 Luật quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ năm 2017:
- Tịch thu, giao cho Bộ chỉ huy quân sự tỉnh S xử lý theo thẩm quyền: 01 (Một) gói vật chứng (phong bì giấy màu trắng) nguyên niêm phong. Mặt sau phong bì tại phần mép dán có chữ ký, họ tên của thành phần tham gia niêm phong là ông Hoàng Công M, Trần Huy V và được đóng 02 (hai) dấu tròn màu đỏ của Phòng K2 Công an Thành phố H (Trong phong bì chứa đựng số vật liệu nổ (thuốc nổ đen) còn lại sau giám định là 30,31 gam).
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/02/2024 của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh S và Cục thi hành dân sự tỉnh S).
3. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS 2015; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Lò Văn K phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 24/3/2025)./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Quản Hữu Chiến |
Bản án số 65/2025/HS-ST ngày 24/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA về tàng trữ trái phép vật liệu nổ
- Số bản án: 65/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép vật liệu nổ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Lò Văn K phạm tội: Tàng trữ trái phép vật liệu nổ
