|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 65/2025/HS-ST Ngày 17-11-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Phi Long
Thẩm phán: Bà Trần Thị Khánh Vân
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Thanh Bình, ông Phạm Trung Hiếu, bà Lê Thị Hồng Nhung
Thư ký phiên tòa: Ông Thái Vũ Hải Đăng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai tham gia phiên tòa: Ông Ngô Tiến Tân - Kiểm sát viên.
Ngày 17/11/2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 52/2025/TLST-HS ngày 01/10/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 66/2025/QĐXXST-HS ngày 29/10/2025 đối với:
- Bị cáo:
Lầu A T
Sinh ngày 23 tháng 8 năm 1968 tại tỉnh Yên Bái (nay là tỉnh Lào Cai). Căn cước công dân số: [...] do Cục CSQLHC về TTXH cấp ngày 16/8/2022.
Nơi ĐKHKTT và nơi ở: Thôn K+17, xã T, huyện T, tỉnh Lào Cai (nay là xã T, tỉnh Lào Cai); Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 5/12; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lầu A G (đã chết) và bà Mùa Thị L (đã chết). Bị cáo có vợ là Giàng Thị C và có 07 con, lớn nhất sinh năm 1990, nhỏ nhất sinh năm 2006.
Tiền án, tiền sự: Không
Nhân thân: Ngày 04/3/2009, bị Công an huyện T xử phạt 500.000 (năm trăm nghìn) đồng về hành vi Đánh bạc, tại Quyết định số 08/QĐ-XPHC (đã chấp hành xong).
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/6/2025, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại trại tạm giam số 02 - Công an tỉnh L. (Có mặt).
- Người bào chữa cho bị cáo Lầu A T: Ông Trần Ngọc H - Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh L (Có mặt).
- Người làm chứng: Ông Sùng A T1. Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Yên Bái (nay là xã T, tỉnh Lào Cai). (Vắng mặt).
- Người chứng kiến: Ông Giàng A P. Địa chỉ: Thôn K+ A, xã T, huyện T, tỉnh Yên Bái (nay là xã T, tỉnh Lào Cai) (Vắng mặt)
- Người phiên dịch: Ông Khang A L1 – Cán bộ trại tạm giam số 02, Công an tỉnh L (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lầu A T khai nhận, trước ngày bị bắt khoảng 02 tuần, tại khu vực đường thôn gần nhà, Lầu A gặp Hàng Thị D, sinh năm 1986, trú tại bản N, xã N, tỉnh Lào Cai và mua được của Dê 06 (sáu) túi ma túy tổng hợp Hồng phiến (mỗi túi khoảng 200 viên) với giá 2.700.000đ/1 túi mang về nhà cất giấu nhằm mục đích để bán kiếm lời. Đến sáng ngày 06/6/2025, Lầu A T gặp và mua được của Sùng A T1, sinh năm 1986, trú tại thôn T, xã T, tỉnh Lào Cai 01 (một) 01 lạng tiểu ly Heroine với số tiền 16.000.000 đồng sau đó mang về nhà cất giấu với mục đích để bán kiếm lời. Tất cả số ma túy này T đều mua nợ chưa trả tiền. Đến khoảng 16 giờ ngày 06/6/2025, khi T đang ở nhà một mình thì thấy 02 người dân tộc Mông (một người nam giới và một người nữ giới) đến nhà T. Tại đây, người phụ nữ hỏi T biết ai có ma túy bán hoặc T có ma túy bán không thì người này có nhu cầu mua với số lượng 01 (một) cây Heroine và 02 (hai) túi ma túy tổng hợp Hồng phiến. Tống nói có ma túy bán với giá 22.000.000đ/1 cây Heroine và 4.000.000đ/1 túi ma túy Hồng phiến, người phụ nữ này đồng ý mua. Tống lấy số ma túy ra để bán nhưng chưa kịp bán thì bị Cơ quan Công an phát hiện, kiểm tra bắt giữ cùng số ma túy, hai người hỏi mua ma túy của T bỏ chạy thoát. Sau đó, T cũng tự giác giao nộp 04 (bốn) túi ma túy tổng hợp dạng Hồng phiến đang cất giấu cho tổ công tác.
- Tại bản Kết luận giám định số 287/KL-KTHS ngày 14/6/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh Y kết luận:
- + Chất bột nén màu trắng thu giữ khi bắt quả tang Lầu A Tống có khối lượng là 32,8 gam; trích 0,1gam trong 32,8 gam chất bột nén màu trắng gửi giám định là ma túy, loại Heroine;
- + Các viên nén hình tròn, mầu hồng thu giữ khi bắt quả tang Lầu A T có tổng khối lượng là: 32,6 gam; trích 0,1gam trong 32,6 gam các viên nén hình tròn mầu hồng gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine;
- + Các viên nén hình tròn mầu hồng do Lầu A T tự giác giao nộp khi bắt quả tang có tổng khối lượng là: 68 gam; trích 0,1gam trong 68 gam các viên nén hình tròn mầu hồng gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine.
Cáo trạng số 33/CT-VKS-P1 ngày 29/9/2025 của VKSND tỉnh Lào Cai đã truy tố bị cáo Lầu A T về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo điểm h khoản 4 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025.
Tại phiên tòa, bị cáo Lầu A T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trong bản cáo trạng và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai phát biểu lời luận tội và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lầu A T phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.
Áp dụng điểm h khoản 4, khoản 6 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025: Xử phạt bị cáo Lầu A T mức án 20 (hai mươi) năm tù. Phạt bổ sung bị cáo số tiền 5.000.000 (năm triệu) đồng đến 10.000.000 (mười triệu) đồng.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025, tịch thu tiêu hủy số ma túy thu giữ của bị cáo, 06 vỏ phong bì, 01cân tiểu ly, các mảnh túi nilon. Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động OPPO màu xanh.
Tuyên án phí, quyền kháng cáo cho bị cáo theo quy định pháp luật.
Người bào chữa cho bị cáo L2 A T trình bày quan điểm bào chữa và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm h khoản 4 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025, xử phạt bị cáo L2 A Tống 20 (hai mươi) năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, người bào chữa cho các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh:
Tại phiên tòa, bị cáo Lầu A T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, biên bản phạm tội quả tang, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, do đó có đủ cơ sở khẳng định: Vì mục đích bán kiếm lời, bị cáo Lầu A T đã tìm mua 133,4 gam ma túy gồm 32,8 gam Heroine và 100,6 gam Methamphetamine. Khoảng 16 giờ ngày 06/6/2025, bị cáo đang lấy ma túy ra để bán cho hai người dân tộc Mông (không rõ lý lịch, địa chỉ) tại nhà của bị cáo thì bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh L bắt quả tang, thu giữ toàn bộ tang vật.
Bản cáo trạng số 33/CT-VKS-P1 ngày 29/9/2025 của VKSND tỉnh Lào Cai đã truy tố bị cáo Lầu A T về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo điểm h khoản 4 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025 là có căn cứ. Hội đồng xét xử xác định, bị cáo Lầu A T bị truy tố về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo điểm h khoản 4 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025 là đúng người, đúng tội.
[3] Về hình phạt:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền về quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, gây mất trật tự trị an tại địa phương.
Bị cáo Lầu A T trước khi phạm tội là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Căn cứ nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy cần xử phạt bị cáo mức hình phạt thật nghiêm minh, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian dài mới đảm bảo tính giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, nhận thức pháp luật hạn chế, tuy nhiên bị cáo mua ma túy về với mục đích bán để kiếm lời. Quá trình điều tra xác minh bị cáo có tài sản đảm bảo thi hành án, vì vậy cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp.
Đối với Hàng Thị D, Giàng Thị X, Sùng A T1 và hai người mua ma túy của Lầu A: Xét thấy, quá trình điều tra, ngoài lời khai của bị cáo Lầu A T, không có tài liệu, chứng cứ khác chứng minh những đối tượng này có liên quan đến hành vi phạm tội. Do đó Cơ quan cảnh sát điều tra không xem xét xử lý là phù hợp.
[4] Về vật chứng:
Đối với số ma túy còn lại sau trích mẫu giám định, 06 vỏ phong bì, túi nilon, 01 cân tiểu ly: Là vật chứng vụ án, thuộc trường hợp nhà nước cấm lưu hành, không có giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 điện thoại OPPO thu giữ của bị cáo: Không liên quan đến hành vi phạm tội, cần trả lại cho bị cáo, tuy nhiên cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Đối với ý kiến của đại diện Viện kiểm sát về việc trả lại cho bị cáo 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO: Xét thấy bị cáo không sử dụng chiếc điện thoại trên để liên lạc mua, bán ma túy, nhưng do bị cáo phải chấp hành hình phạt bổ sung và án phí, vì vậy cần tạm giữ chiếc điện thoại để đảm bảo công tác thi hành án.
[5] Về án phí: Do bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Về trách nhiệm hình sự:
- Về vật chứng:
- - 01 (một) phong bì niêm phong do Phòng K1 Công an tỉnh Y phát hành, mặt trước phong bì có ghi: Vật chứng thu giữ của Lầu A tại thôn KM14+17, xã T, huyện T, Yên Bái ngày 06/6/2025 (sau khi trích mẫu giám định). Mặt sau phong bì các mép được dán kín có chữ ký, họ tên của Hà Phương T2, Nguyễn Đức P1, Lầu A, Hà Thanh H1, Trần Ngọc H, Triệu Thanh K, Nguyễn Xuân T3 và 04 (bốn) hình dấu tròn đỏ của Phòng K1 Công an tỉnh Y (Khối lượng còn lại sau giám định là 32,7 gam Heroine, 100,4 gam Methamphetamine).
- - 06 (sáu) vỏ phong bì đã mở niêm phong, toàn bộ các mảnh nilon, túi nilon.
- - 01 (một) cân tiểu ly điện tử có vỏ bằng nhựa màu đen có chữ POCKET SCALE.
- 01 (một) điện thoại di động OPPO màu xanh, màn hình cảm ứng, đã qua sử dụng.
- Về án phí:
Tuyên bố bị cáo Lầu A T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
Căn cứ điểm h khoản 4, khoản 6 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025: Xử phạt bị cáo L2 A Tống 20 (hai mươi) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06/6/2025.
Phạt bị cáo Lầu A T 20 (hai mươi triệu) đồng nộp ngân sách nhà nước.
Căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025:
* Tịch thu tiêu hủy:
* Tạm giữ để đảm bảo thi hành án của Lầu A Tống:
(Vật chứng được mô tả theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 03/10/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh L và Thi hành án dân sự tỉnh Lào Cai).
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016: Buộc bị cáo Lầu A T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự ".
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Phi Long |
Bản án số 65/2025/HS-ST ngày 17/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 65/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo 20 năm tù, phạt bổ sung 20 triệu đồng nộp ngân sách nhà nước
