Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂN PHÚ

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 65/2025/HS-ST

Ngày: 09-4-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ - TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Bá Đức.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Phạm Công Gia.
  2. Bà Trần Thị Yến Nhi.

Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Tùng Anh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Trương Hoàng Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 4 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 22/2025/HS-ST ngày 17/01/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2025/QĐXXST-HS ngày 26/02/2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 06/2025/HSST-QĐ, ngày 17/3/2025 và Thông báo thay đổi thời gian xét xử vụ án hình sự số 15/2025/TB-TA, ngày 25/3/2025 đối với bị cáo:

NGUYỄN MINH S - sinh năm: 1970; tại tỉnh Ninh Bình.

Nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 00/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T (đã chết) và bà Trần Thị H (đã chết); có vợ Nguyễn Thị L – sinh năm 1975 và có 02 người con, lớn nhất 28 tuổi, nhỏ nhất 25 tuổi; tiền sự, nhân thân: Không.

Tiền án: Ngày 18/5/1991, bị Tòa án nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai xử phạt 12 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” tại bản án số 24/HS-ST.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 06/01/2024 đến ngày 17/01/2025, hiện nay, bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú theo Lệnh số 06/2025/LCĐKNCT-TA, ngày 17/01/2025 của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai. (có yêu cầu xét xử vắng mặt)

* Đại diện hợp pháp của bị cáo: Bà Nguyễn Thị L – sinh năm 1975 (là vợ của bị cáo Nguyễn Minh S) (có mặt)

Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

* Người bào chữa cho bị cáo: Bà Bùi Thị H1 – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Đ. (có yêu cầu xét xử vắng mặt)

Địa chỉ: Số B, đường C phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

* Người bị hại:

  1. Ông Huỳnh Văn Q – sinh năm 1985. (có mặt)
  2. Địa chỉ: Ấp T, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

  3. Ông Nguyễn Văn S1 - sinh năm 1986. (vắng mặt)
  4. Địa chỉ: Ấp T, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

* Người làm chứng: Bà Trần Thị Thùy A – sinh năm 1986. (vắng mặt)

Địa chỉ: Tổ A, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Buổi sáng ngày 06/01/2024, bị cáo Nguyễn Minh S đi đến nhà ông Nguyễn Văn Q1 thuộc ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai để uống rượu. Sau khi uống hết rượu do không có tiền nên bị cáo S nảy sinh ý định đi xin tiền người khác mua rượu uống. Khoảng 08 giờ cùng ngày, khi đi đến đoạn đường trước nhà bà Trần Thị Thùy A thuộc ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai thì bị cáo S gặp ông Huỳnh Văn Q là lái xe hợp đồng cho bà A đang điều khiển xe ô tô chuẩn bị đi chở khách.

Lúc này bị cáo S đến xin ông Q tiền mua rượu thì ông Q không cho nên bị cáo S đe doạ “Mày không cho, tao về nhà lấy dao chém chết mày”. Tiếp đó, bị cáo S đi về nhà lấy 01 con dao cán gỗ dài 30cm (lưỡi dao dài 20cm) và 01 con dao cán gỗ dài 32cm (lưỡi dao dài 19cm) đi đến chỗ xe ô tô ông Q rồi đưa 02 con dao về phía ông Q đe doạ “Mày có cho tiền tao không, không tao giết mày”. Do sợ hãi việc bị cáo S dùng dao đe dọa nên ông Q đã đưa cho bị cáo S 50.000 đồng.

Sau khi lấy tiền từ ông Q thì bị cáo S tiếp tục đi ra xe ô tô phía sau do ông Nguyễn Văn S1 điều khiển, bị cáo S xin tiền ông S1 nhưng do ông S1 không nghe thấy nên bị cáo S dùng 01 con dao đâm nhiều nhát về phía ông S1 và trúng vào vành tai trái của ông S1 gây thương tích. Sau khi được bà Thùy A can ngăn thì bị cáo Nguyễn Minh S bỏ đi và bị Công an xã T lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với hành vi nêu trên vào lúc 08 giờ 30 phút cùng ngày.

Những vấn đề khác: Ngày 04/10/2024, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định trưng cầu giám định pháp y về tâm thần đối với bị can Nguyễn Minh S.

Tại bản Kết luận giám định pháp y tâm thần số 8555/KLGĐ ngày 13/11/2024 của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực Thành phố H kết luận: “Về y học: Trước, trong, sau ngày 06/01/2024 và hiện nay đối tượng Nguyễn Minh S có bị bệnh tâm thần. Loại bệnh: Rối loạn tâm thần khởi phát muộn và di chứng do sử dụng rượu (F10.7-ICD10); Về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: Trước, trong, sau ngày 06/01/2024 và hiện nay đối tượng Nguyễn Minh S hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Ý kiến khác: Nguyên nhân gây bệnh tâm thần của đối tượng Nguyễn Minh S là do sử dụng rượu.”

Như vậy trước, trong, sau ngày thực hiện hành vi phạm tội, Nguyễn Minh S bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi do sử dụng rượu.

Tại Cáo trạng số 41/CT-VKSTP-ĐN ngày 17/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai đã truy tố bị cáo Nguyễn Minh S về tội “Cướp tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 168 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện hợp pháp của bị cáo, bà Nguyễn Thị L trình bày: Hiện nay bị cáo Nguyễn Minh S bị bệnh ung thư đang điều trị bệnh tại nhà nên không có khả năng đi lại.

Tại phiên tòa, sau khi phân tích các dấu hiệu phạm tội, đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ; đặc điểm nhân thân của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Minh S về tội “Cướp tài sản”, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168, điểm b, q, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Minh S 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt chấp hành án.

- Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho bị hại ông Nguyễn Văn S1 số tiền 500.000 đồng, ông Huỳnh Văn Q số tiền 500.000 đồng. Ông Q, ông S1 không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm nên không xem xét, giải quyết.

- Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy đối với 01 con dao cán gỗ dài 30cm, lưỡi inox dài 20cm, cán gỗ dài 10cm; 01 con dao cán nhựa màu đen dài 32cm, lưỡi bằng thép dài 19cm, mũi nhọn, cán gỗ dài 13cm, hiệu Japan.

Buộc bị cáo Nguyễn Minh S phải nộp lại số tiền 50.000 đồng để sung vào ngân sách nhà nước.

- Về vấn đề khác: Đối với ông Nguyễn Văn S1 bị bị cáo Nguyễn Minh S dùng dao gây thương tích, ông S1 từ chối giám định thương tích do thương tích nhẹ và không yêu cầu xử lý đối với hành vi cố ý gây thương tích của bị cáo Nguyễn Minh S nên không xem xét, giải quyết.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

* Người bào chữa cho bị cáo, bà Bùi Thị H1 gửi luận cứ như sau: Thống nhất với tội danh mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai truy tố bị cáo Nguyễn Minh S về tội “Cướp tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự.

Sau khi phạm tội bị cáo Nguyễn Minh S đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại; bị cáo bị bệnh hạn chế khả năng nhận thức, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo S.

Đại diện hợp pháp của bị cáo không có ý kiến tranh luận gì với Kiểm sát viên.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

  1. [1] Vụ án không thuộc trường hợp tạm đình chỉ hoặc trả hồ sơ điều tra bổ sung. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, đại diện hợp pháp của bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. [2] Bị cáo Nguyễn Minh S và người bào chữa cho bị cáo S có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; bị hại ông Nguyễn Văn S1, người làm chứng bà Trần Thị Thùy A vắng mặt tại phiên tòa. Xét trong quá trình điều tra bị cáo S, ông S1, bà A đã có lời khai đầy đủ và bị hại không có yêu cầu gì đối với bị cáo S việc vắng mặt của bị cáo S, ông S1, bà A, bà H1 (người bào chữa cho bị cáo) không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên căn cứ Điều 290, Điều 291, Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
  3. [3] Căn cứ vào lời khai của bị cáo và các chứng cứ khác được thu thập trong hồ sơ vụ án nên có căn cứ để xác định:

    Vào lúc 08 giờ 30 phút ngày 06/01/2024, tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai, bị cáo Nguyễn Minh S đã có hành vi dùng 02 con dao (là hung khí nguy hiểm) để đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc đối với ông Huỳnh Văn Q để chiếm đoạt số tiền 50.000 đồng. Tiếp đó bị cáo Nguyễn Minh S dùng dao đe doạ ông Nguyễn Văn S1 để xin tiền và đâm vào vành tai trái của ông S1 gây thương tích nhẹ.

    Hội đồng xét xử nhận thấy hành vi của bị cáo Nguyễn Minh S đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp tài sản”, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai truy tố bị cáo Nguyễn Minh S về tội “Cướp tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

  4. [4] Hành vi của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Do đó, cần xử phạt bị cáo với mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội mới có tác dụng giáo dục, răn đe cũng như phòng ngừa chung trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm.
  5. [5] Về tiền sự: Không.
  6. [6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phải chịu tình tiết “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
  7. [7] Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu.
  8. [8] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bồi thường thiệt hại cho bị hại; bị cáo có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
  9. [9] Từ những phân tích, đánh giá nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải tiếp tục cách ly bị cáo Nguyễn Minh S ra khỏi xã hội một thời gian, để bị cáo sửa chữa những sai lầm trở thành công dân có ích cho xã hội.
  10. [10] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho bị hại ông Nguyễn Văn S1 số tiền 500.000 đồng, ông Huỳnh Văn Q số tiền 500.000 đồng. Ông Q, ông S1 không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm nên trách nhiệm dân sự không đặt ra đối với bị cáo.
  11. [11] Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 con dao cán gỗ dài 30cm, lưỡi inox dài 20cm, cán gỗ dài 10cm; 01 con dao cán nhựa màu đen dài 32cm, lưỡi bằng thép dài 19cm, mũi nhọn, cán gỗ dài 13cm, hiệu Japan.

    Buộc bị cáo Nguyễn Minh S phải nộp lại số tiền 50.000 đồng để sung vào ngân sách nhà nước.

  12. [12] Về vấn đề khác: Đối với ông Nguyễn Văn S1 bị bị cáo Nguyễn Minh S dùng dao gây thương tích, ông S1 từ chối giám định thương tích do thương tích nhẹ, không yêu cầu xử lý đối với hành vi cố ý gây thương tích của bị cáo Nguyễn Minh S nên không xem xét, giải quyết.
  13. [13] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
  14. [14] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa cho bị cáo và bị hại được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
  15. [15] Quan điểm về việc giải quyết toàn bộ vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
  16. [16] Quan điểm của người bào chữa cho bị cáo phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • Điểm d khoản 2 Điều 168; điểm b, q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật hình sự.
  • Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự.
  • Điều 290, Điều 291, Điều 292, Điều 293, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
  • Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án
  1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Minh S phạm tội “Cướp tài sản”.
  2. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Minh S 07 (bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án nhưng khấu trừ cho bị cáo thời gian tạm giữ từ ngày 06/01/2024 đến ngày 17/01/2025.
  3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 con dao cán gỗ dài 30cm, lưỡi inox dài 20cm, cán gỗ dài 10cm; 01 con dao cán nhựa màu đen dài 32cm, lưỡi bằng thép dài 19cm, mũi nhọn, cán gỗ dài 13cm, hiệu Japan.

    Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 22/01/2024 giữa Công an huyện T, tỉnh Đồng Nai và Chi Cục thi hành án dân sự huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.

    Buộc bị cáo Nguyễn Minh S phải nộp lại số tiền 50.000đ (năm mươi ngàn đồng) để sung vào ngân sách nhà nước.

  4. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Minh S phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm có mặt đại diện hợp pháp của bị cáo, bị hại ông Huỳnh Văn Q quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 09/4/2025).

    Đối với bị cáo và bị hại ông Nguyễn Văn S1, người bào chữa cho bị cáo vắng mặt quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - Sở tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND huyện Tân Phú;
  • - Công an huyện Tân Phú;
  • - Chi cục THADS huyện Tân Phú;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu (hồ sơ, án văn)./.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Bá Đức

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 65/2025/HS-ST ngày 09/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ TỈNH ĐỒNG NAI về cướp tài sản

  • Số bản án: 65/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cướp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Minh S phạm tội "Cướp tài sản"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger