Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LẠNG SƠN

TỈNH LẠNG SƠN

Bản án số: 65/2025/HS-ST

Ngày 05-6-2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Hải Ninh

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Nhật Chiến;

Ông Dương Việt Hưng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Vy Thị Thu Hà, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Minh, Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 6 năm 2025 tại Nhà V, phường V, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn xét xử lưu động công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 56/2025/TLST-HS ngày 12 tháng 5 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 60/2025/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 5 năm 2025, Quyết định thay đổi Hội thẩm nhân dân số 21/2025/HSST-QĐ ngày 04 tháng 6 năm 2025, đối với bị cáo:

Đinh Xuân T, tên gọi khác: Không có; sinh ngày 14 tháng 10 năm 2003 tại Lạng Sơn; số căn cước công dân [...], cấp ngày 13/8/2021, nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội - Bộ C1; nơi đăng ký thường trú: tổ B, khối B, thị trấn C, huyện C, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Văn B, sinh năm 1975 và bà Trần Thị L, sinh năm 1975; vợ Đỗ Phương L1, sinh năm 2003 và con: Có 01 con sinh năm 2024; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tại Bản án số 08/2021/HS-ST ngày 28/5/2021 của Tòa án nhân dân huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn đã xử phạt bị cáo 01 năm 06 tháng tù giam về tội Cố ý gây thương tích (đã được xóa án tích); bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/01/2025 đến nay; có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Bà Hoàng Thị L2, sinh năm 1984; nơi cư trú: Thôn B, xã T, huyện L, tỉnh Lạng Sơn; vắng mặt.
  2. Ông Phan Văn K, sinh năm 2004, nơi cư trú: Thôn K, xã H, huyện C, tỉnh Lạng Sơn, có mặt.
  3. Ông Phan Văn T1, sinh năm 1947, nơi cư trú: Thôn K, xã H, huyện C, tỉnh Lạng Sơn; vắng mặt.

Người chứng kiến: Ông Hoàng Doãn C, sinh năm 1953; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 12 giờ ngày 17/12/2024, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và ma túy Công an thành phố L đang làm nhiệm vụ tại khu vực trước cửa nhà số D, đường K, phường V, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn phát hiện Đinh Xuân T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision màu xám, biển kiểm soát 12LA-040.04 có biểu hiện nghi vấn phạm tội về ma túy nên đã yêu cầu kiểm tra. Qua kiểm tra phát hiện trong lòng bàn tay trái của Đinh Xuân T có 02 gói giấy vệ sinh màu vàng (kích thước 09cm x 13cm) bên trong đều chứa sợi thực vật màu vàng nghi chứa chất ma túy. Bị cáo Đinh Xuân T khai nhận 02 gói giấy chứa ma túy Tobaco đang chuẩn bị đem bán cho Phan Văn K mục đích để kiếm lời.

Cùng ngày, Cơ quan điều tra khám xét khẩn cấp nơi ở của Đinh Xuân T nhưng không thu giữ đồ vật có liên quan.

Tang vật, đồ vật thu giữ gồm:

  • Thu giữ của bị cáo Đinh Xuân T: 02 gói giấy vệ sinh màu vàng kích thước 09cm x 13cm bên trong đều chứa sợi thực vật màu vàng; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu tím, số IMEI1: 867993075543338; số IMEI2: 867993075543320, gắn sim thuê bao di động số 0362.629.661 đã qua sử dụng, 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision màu xám, biển kiểm soát 12LA-040.04, số khung RLHJKO353RZ100852, số máy JK03E-7915072.
  • Thu giữ của Phan Văn K: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu xanh, số IMEI1: 351402857811528, số IMEI2: 51402857811635; lắp kèm sim thuê bao số 0365.394.011 đã qua sử dụng.

Tại bản Kết luận giám định số 9989/KL-KTHS ngày 26/12/2024 của V - Bộ C1 xác định: Tìm thấy chất ma túy MDMB-4en-PINACA, MDMB-BUTINACA, MDMB-INACA trong mẫu các sợi thực vật màu vàng gửi giám định, khối lượng mẫu: 4,675 gam. Hàm lượng, khối lượng chất MDMB-4en-PINACA trong mẫu lần lượt là 0,04% và 0,0018 gam. Hiện nay, V chưa có mẫu chuẩn định lượng chất ma túy MDMB-BUTINACA, MDMB-INACA nên không xác định được hàm lượng, khối lượng chất MDMB-BUTINACA, MDMB-INACA có trong mẫu.

Công văn số 177/C09-TT2 ngày 20/01/2025 của V - Bộ C1 xác định: Ở điều kiện bình thường, các chất ma túy MDMB-4en-PINACA, MDMB-BUTINACA, MDMB-INACA tồn tại ở thể rắn.

Ngày 09 tháng 01 năm 2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L đã ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can và ra Lệnh bắt bị can để tạm giam đối với Đinh Xuân T về hành vi Mua bán trái phép chất ma túy.

Tại Cơ quan điều tra, bị cáo Đinh Xuân T khai nhận: Hồi 11 giờ 30 phút ngày 17/12/2024, Phan Văn K sử dụng số thuê bao 0365.394.011 gọi điện và nhắn tin đến số thuê bao 0362.629.661 của Đinh Xuân T hỏi mua ma túy "Tobaco" giá 50.000 đồng với mục đích mang về sử dụng và hẹn Đinh Xuân T mang ma túy đến giao tại nhà của Phan Văn K. Sau đó, Đinh Xuân T cầm theo 02 gói giấy chứa ma túy “Tobaco” trong lòng bàn tay trái rồi điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision màu xám, biển kiểm soát 12LA-040.04 đến điểm hẹn. Khi đi đến khu vực trước cửa nhà số D, đường K, phường V, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn thì bị lực lượng Công an phát hiện, thu giữ như đã nêu trên. Về nguồn gốc số ma túy Đinh Xuân T đã bán cho Phan Văn K, Đinh Xuân T khai nhận được một đối tượng tên H (không rõ tên tuổi địa chỉ), quen biết ngoài xã hội cho vào tối ngày 14/12/2024 tại quán trà đá tại khu vực đường Bà T2 (đối diện siêu thị L3).

Ngoài ra, Đinh Xuân T còn khai nhận đã bán ma túy cho Phan Văn K 03 lần khác, cụ thể:

  • Lần 1: Khoảng 08 giờ ngày 16/12/2024, Phan Văn K gọi điện và nhắn tin cho Đinh Xuân T hỏi mua 50.000 đồng ma túy Tobaco thì T đồng ý hẹn giao dịch tại nhà của Phan Văn K. Sau đó, Đinh Xuân T đem 02 gói ma túy Tobaco đến bán cho Phan Văn K nhưng Phan Văn K không đủ tiền nên chỉ mua với Đinh Xuân T 01 gói ma túy giá 30.000 đồng, trả bằng tiền mặt. Số ma túy trên, một mình Phan Văn K đã sử dụng hết.
  • Lần 2: Khoảng 18 giờ ngày 16/12/2024, Phan Văn K tiếp tục gọi điện và nhắn tin cho Đinh Xuân T hỏi mua 50.000 đồng ma túy Tobaco; Đinh Xuân T đồng ý hẹn giao dịch tại nhà của Phan Văn K. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, Đinh Xuân T đem 02 gói ma túy Tobaco đến nhưng Phan Văn K không đủ tiền nên chỉ mua với Đinh Xuân T 01 gói ma túy giá 30.000 đồng, trả bằng tiền mặt. Số ma túy trên, một mình Phan Văn K đã sử dụng hết.
  • Lần 3: Khoảng 08 giờ ngày 17/12/2024, Phan Văn K gọi điện và nhắn tin cho Đinh Xuân T hỏi mua 01 gói ma túy Tobaco giá 30.000 đồng thì T đồng ý hẹn giao dịch tại nhà của Phan Văn K. Sau đó, Đinh Xuân T đem 01 gói giấy chứa ma túy Tobaco đến đưa cho Phan Văn K, Phan Văn K trả bằng tiền mặt. Sau đó, Phan Văn K một mình sử dụng hết số ma túy trên.

Tại bản Cáo trạng số 60/CT-VKS, ngày 12 tháng 5 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Đinh Xuân T về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo giữ nguyên lời khai đã trình bày tại Cơ quan Điều tra, thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng truy tố.

Anh Phan Văn K trình bày được mượn điện thoại của ông nội (điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu xanh, số IMEI1: 351402857811528, số IMEI2: 51402857811635; lắp kèm sim thuê bao số 0365.394.011 đã qua sử dụng) và gọi điện thoại đặt mua ma túy loại Tobaco với Đinh Xuân T về để sử dụng cho bản thân 04 lần với nội dung như bản cáo trạng nêu và đã mua hoàn thành 03 lần.

Tại Cơ quan điều tra và đơn xin xét xử vắng mặt, ông Phan Văn T1 trình bày: Phan Văn K là cháu nội của ông, sinh sống cùng nhà, nên thỉnh thoảng Phan Văn K có mượn điện thoại của ông để gọi điện cho bạn. Ông không biết Đinh Văn K1 gọi điện thoại để đặt mua ma túy, ông đề nghị xin lại chiếc điện thoại để sử dụng.

Tại Cơ quan điều tra và tại đơn xin xét xử vắng mặt, bà Hoàng Thị L2 trình bày: Ngày 14/12/2024 bị cáo Đinh Xuân T mượn xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision màu xám, biển kiểm soát 12LA-040.04 của bà Hoàng Thị L2 nói là để đi ăn cưới bạn. Việc bị cáo điều khiển xe mô tô đem ma túy đi bán bà Hoàng Thị L2 không biết. Cơ quan điều tra đã trả xe mô tô cho bà, nên bà Hoàng Thị L2 không yêu cầu bị cáo bồi thường.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn luận tội: Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung cáo trạng đã nêu. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đinh Xuân T phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự; áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Đinh Xuân T từ 07 năm 03 tháng tù đến 07 năm 06 tháng tù; không đề nghị phạt bổ sung. Truy thu bị cáo Đinh Xuân T 90.000 đồng tiền đã bán ma túy cho Phan Văn K vào các ngày 16, 17/12/2024.

Vật chứng của vụ án, căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, đề nghị: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định; tịch thu hóa giá sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu hiệu OPPO màu tím, đã qua sử dụng thu của bị cáo Đinh Xuân T. Trả lại 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu xanh, đã qua sử dụng cho ông Phan Văn T1. Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision màu xám, biển kiểm soát 12LA-040.04, cơ quan điều tra đã trả lại chủ sở hữu, nên không đề nghị giải quyết.

Án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000đồng.

Bị cáo không tranh luận. Lời nói sau cùng bị cáo trình bày: Bị cáo biết hành vi mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm được trở về với gia đình, xã hôi.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1] Về thủ tục tố tụng, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, người chứng kiến vắng mặt, việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử, căn cứ Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiếp tục giải quyết vụ án vắng mặt những người nêu trên.
  2. [2] Về hành vi, quyết định tố tụng và việc thu thập bảo quản tài liệu, chứng cứ của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
  3. [3] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản sự việc, vật chứng thu giữ, phù hợp với lời khai của bị cáo, người tham gia tố tụng khác tại Cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, do đó có đủ căn cứ xác định: Ngày 17/12/2024, tại khu vực trước cửa nhà số D, đường K, phường V, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn, bị cáo Đinh Xuân T đang đem 02 gói chứa ma túy MDMB-4en-PINACA có khối lượng 0,0018 gam chuẩn bị bán cho Phan Văn K mục đích để kiếm lợi nhưng chưa kịp tiêu thụ thì bị thì bị lực lượng Công an phát hiện, thu giữ. Ngoài ra, bị cáo Đinh Xuân T trước đó đã bán ma túy cho Phan Văn K hoàn thành 03 lần, hưởng lợi 90.000 đồng.
  4. [4] Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Đinh Xuân T phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy theo điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
  5. [5] Hành vi phạm tội của bị cáo Đinh Xuân T gây ra là rất nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy. Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và biết rõ tác hại của ma túy ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người và là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và tội phạm khác, gây mất trật tự an toàn xã hội nhưng để thỏa mãn nhu cầu của bản thân, hám lợi, bị cáo vẫn cố ý thực hiện tội phạm mua bán trái phép chất ma túy. Để cá thể hóa hình phạt đối với bị cáo, Hội đồng xét xử xem xét, đánh giá căn cứ quyết định hình phạt như sau:
  6. [6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
  7. [7] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo nên được áp dụng quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
  8. [8] Về nhân thân: Bị cáo không có tiền án, tiền sự; nhưng đã 01 lần bị kết án, nhưng không lấy đó làm bài học để cải tạo để trở thành người có ích cho xã hội, mà vẫn tiếp tục phạm tội về ma túy; do đó đánh giá bị cáo có nhân thân không tốt.
  9. [9] Từ những nhận định trên thấy, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
  10. [10] Về hình phạt bổ sung: Tại Biên bản xác minh bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản riêng có giá trị, nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
  11. [11] Truy thu bị cáo Đinh Xuân T 90.000 đồng tiền đã bán ma túy cho Phan Văn K vào các ngày 16, 17/12/2024.
  12. [12] Về vật chứng: Ma túy đựng trong 01 phong bì niêm phong sau giám định là vật Nhà nước cấm lưu hành, cần tịch thu để tiêu hủy; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu tím đã qua sử dụng thu của bị cáo Đinh Xuân T là phương tiện phạm tội, cần tịch thu hóa giá sung ngân sách Nhà nước. Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu xanh đã qua sử dụng là điện thoại của ông Phan Văn T1 cho Phan Văn K mượn, nhưng ông không biết Phan Văn K gọi điện đặt mua ma túy, nên trả lại cho ông Phan Văn T1. Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision màu xám, biển kiểm soát 12LA-040.04 thuộc sở hữu của bà Hoàng Thị L2; ngày 14/12/2024 bị cáo mượn xe nói là để đi ăn cưới bạn; việc bị cáo điều khiển xe mô tô đem ma túy đi bán, bà Hoàng Thị L2 không biết. Ngày 09/01/2025 Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe mô tô cho bà Hoàng Thị L2 là có căn cứ.
  13. [13] Đối với Phan Văn K là người đặt mua ma túy với Đinh Xuân T vào ngày 17/12/2024 với mục đích để sử dụng, nhưng Đinh Xuân T bị phát hiện thu giữ khi chưa kịp giao 0,0018 gam ma túy MDMB-4en-PINACA cho Phan Văn K dẫn đến việc Phan Văn K chưa nhận được ma túy như đã thỏa thuận là nằm ngoài ý muốn chủ quan của Phan Văn K và Đinh Xuân T. Hành vi của Phan Văn K cố ý thực hiện hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích sử dụng nhưng không thực hiện được đến cùng vì lý do khách quan. Tuy nhiên, Phan Văn K chưa có tiền án, tiền sự, hành vi nêu trên của Phan Văn K chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm để truy cứu trách nhiệm hình sự. Ngày 15/4/2025 Công an thành phố L ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 07/QĐ-XPHC đối với Phan Văn K về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, phạt tiền 3.500.000 đồng.
  14. [14] Đối với đối tượng tên H (không rõ tên tuổi địa chỉ), người đã cho Đinh Xuân T ma túy. Do bị cáo không rõ tên tuổi của đối tượng này nên Cơ quan điều tra chưa đủ căn cứ để xác minh làm rõ và xử lý trong vụ án này. Kiến nghị Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ đối tượng, khi có đủ căn cứ sẽ xử lý theo quy định pháp luật.
  15. [15] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.
  16. [16] Về án phí: Bị cáo là người bị kết án phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
  17. [17] Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47; Điều 50 của Bộ luật Hình sự.

Căn cứ điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 292; Điều 293; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đinh Xuân T phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.
  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Đinh Xuân T 07 (bảy) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 10/01/2025.

    Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

  3. Về biện pháp tư pháp: Truy thu bị cáo Đinh Xuân T 90.000 đồng (chín mươi nghìn đồng) để sung ngân sách Nhà nước.
  4. Về xử lý vật chứng:
    1. Tịch thu tiêu hủy:
      • 01 (một) phong bì thư dán kín, đã cắt mép, niêm phong bên trong có 02 túi nilon màu trắng đều chứa chất ma túy, tổng khối lượng 4,455gam.
      • 02 (hai) gói giấy vệ sinh màu vàng kích thước 09cm x 13cm.
    2. Tịch thu hóa giá sung ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu tím, số IMEI1: 867993075543338; số IMEI2: 867993075543320, gắn sim thuê bao di động số 0362.629.661 đã qua sử dụng.
    3. Trả lại cho ông Phan Văn T1 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu xanh, số IMEI1: 351402857811528, số IMEI2: 51402857811635; lắp kèm sim thuê bao số 0365.394.011 đã qua sử dụng.

      (Những vật chứng trên hiện đang được quản lý tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/5/2025 giữa Công an thành phố L và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Lạng Sơn).

  5. Về án phí: Buộc bị cáo Đinh Xuân T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm, để nộp ngân sách Nhà nước.
  6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt có quyền kháng cáo bản án về những vấn đề liên quan đến quyền lợi nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, người vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo, người có QLNVLQ đến vụ án;
  • - TAND tỉnh Lạng sơn;
  • - VKSND tỉnh Lạng Sơn;
  • - Phòng hồ sơ, Công an tỉnh Lạng Sơn;
  • - CQTHAHS Công an tỉnh Lạng Sơn;
  • - VKSND TP. Lạng Sơn, T. Lạng Sơn;
  • - CCTHADS TP. Lạng Sơn, T. Lạng Sơn;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hải Ninh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 65/2025/HS-ST ngày 05/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 65/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngày 17/12/2024, tại khu vực trước cửa nhà số D, đường K, phường V, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn, bị cáo Đinh Xuân T đang đem 02 gói chứa ma túy MDMB-4en-PINACA có khối lượng 0,0018 gam chuẩn bị bán cho Phan Văn K mục đích để kiếm lợi nhưng chưa kịp tiêu thụ thì bị thì bị lực lượng Công an phát hiện, thu giữ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger