|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 65/2025/HS-PT Ngày: 26 - 5 - 2025 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- - Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Chu Tuấn Vương
- - Các Thẩm phán:
- Bà Nguyễn Thị Kim Hằng
- Ông Ngô Thế Tương.
- - Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thuý Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 70/2025/TLPT-HS ngày 01 tháng 4 năm 2025 đối với các bị cáo Vũ Bá D đối với bản án hình sự sơ thẩm số 18/2025/HS-ST ngày 25/02/2025 của Tòa án nhân dân huyện Thái Thuỵ, tỉnh Thái Bình.
* Bị cáo có kháng cáo: Vũ Bá D; tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam; sinh ngày 07/6/1999. Căn cước công dân: [...]. Nơi cư trú: thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình. Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam. Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Cha đẻ: Vũ Văn B, sinh năm 1977; Mẹ đẻ: Đào Thị D1, sinh năm 1976, đều lao động tự do và trú tại thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình. Bị cáo chưa có vợ. Bị cáo có 01 con, sinh ngày 23/5/2024. Bị cáo là đảng viên, quyết định đình chỉ sinh hoạt đảng số 130-QĐ/UBKTHU ngày 22/01/2025 của Ủy ban kiểm tra Huyện ủy T1; Từ năm 2017 đến năm 2020 thực hiện nghĩa vụ quân sự tại Hải đội B, B tỉnh Thừa Thiên Huế, Tiền án, tiền sự: không – Có mặt.
* Bị hại: Chị Đoàn Thị H, sinh ngày 18/12/2007; Địa chỉ: Thôn Đ, xã D, huyện T, tỉnh Thái Bình. (Vắng mặt)
Người đại diện theo pháp luật của bị hại: Bà Đào Thị T, sinh năm 1988 và ông Đoàn Năng H1, sinh năm 1981; Đều cư trú tại: Thôn Đ, xã D, huyện T, tỉnh Thái Bình (đều có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Từ giữa tháng 6 năm 2023, Vũ Bá D có nhắn tin làm quen với cháu Đoàn Thị H, sinh ngày 18/12/2007, trú tại thôn Đ, xã D, huyện T, tỉnh Thái Bình, đến tháng 8/2023, thì nảy sinh quan hệ tình cảm yêu đương. Trong khoảng thời gian quen nhau, từ tháng 9/2023 đến tháng 10/2023, Vũ Bá D đã 03 lần thực hiện hành vi quan hệ tình dục với cháu H cụ thể:
Lần thứ nhất: Khoảng 20 giờ, đầu tháng 09/2023 (không nhớ rõ ngày), cháu H chủ động nhắn tin cho bị cáo với nội dung cháu H đang ở nhà văn hóa thôn Đ, xã D, huyện T đến đón cháu H đi nhà nghỉ. Bị cáo nhắn tin đồng ý và điều khiển xe môtô đến nhà văn hóa thôn Đ đón cháu H đi đến nhà nghỉ T2 thuộc thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình. Đến nơi cháu H chủ động thuê phòng 204 tầng 2 của nhà nghỉ. Tại phòng nghỉ, bị cáo cùng cháu H nói chuyện với nhau một lúc thì ôm hôn nhau, bị cáo là người chủ động cởi quần áo của bị cáo và quần áo của cháu H để quan hệ tình dục với tư thế cháu H nằm ngửa, bị cáo tư thế quỳ gối để tình dục với nhau (không sử dụng bao cao su) khoảng 10 đến 15 phút thì bị cáo xuất tinh vào trong âm đạo của cháu H. Sau khi quan hệ tình dục và vệ sinh xong bị cáo chở cháu H đi về nhà.
Lần thứ hai: Khoảng cuối tháng 9/2023 (cách ngày quan hệ tình dục lần thứ nhất khoảng 02 tuần), cháu H nhắn tin qua Facebook rủ bị cáo tiếp tục đến nhà nghỉ T2 để quan hệ tình dục, bị cáo đồng ý điều khiển xe máy đến đóncháu H tới nhà nghỉ T2. Bị cáo và cháu H đi lên phòng 204 ở tầng 2 ôm hôn rồi quan hệ tình dục với tư thế bị cáo quỳ xuống giữa hai chân cháu H; cháu H nằm ngửa. Quan hệ tình dục với nhau khoảng 15 phút (không sử dụng bao cao su) thì bị cáo xuất tinh vào trong âm đạo của cháu H. Sau khi quan hệ tình dục xong bị cáo chở cháu H về nhà.
Lần thứ ba: Vào khoảng trưa một ngày chủ nhật trong tháng 10/2023, cháu H nhắn tin với với bị cáo đến chở H về nhà bị cáo ở thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình để chơi. Bị cáo đồng ý đến khu vực gần Bưu điện xã T, huyện T và chở cháu H về nhà và vào phòng ngủ của bị cáo. Tại đây, cả hai tự cởi quần áo của nhau, bị cáo quỳ xuống giữa hai chân cháu H đang nằm ngửa rồi dùng hai tay nâng hai chân lên để lên đùi bị cáo để quan hệ tình dục, có lúc đổi tư thế cháu H ngồi lên trên hông của bị cáo. Cả hai quan hệ tình dục với nhau khoảng 10 phút (không sử dụng bao cao su) thì bị cáo xuất tinh vào trong âm đạo của H. Sau khi quan hệ xong thì cả hai tự mặc quần áo, cháu H ở lại chơi một lúc rồi bị cáo chở cháu H về nhà.
Đến đầu tháng 12/2023, cháu H biết mình có thai và thông báo cho bị cáo biết. Đến ngày 23/5/2024, cháu H sinh 01 cháu gái tại Bệnh viện Đa khoa huyện T và đặt tên là Vũ Khánh Đ. Hành vi của bị cáo bị người dân phát hiện trình báo Công an xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình.
Bản kết luận giám định số 6706/KL-KTHS ngày 01/10/2024 của V - Bộ C kết luận: "Vũ Bá D2 có quan hệ huyết thống cha đẻ - con đẻ với Vũ Khánh Đ với xác suất 99,999%. Đoàn Thị H có quan hệ huyết thống mẹ đẻ - con đẻ với Vũ Khánh Đ với xác suất 99,999%"
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 18/2025/HS-ST ngày 25/02/2025 của Tòa án nhân dân huyện Thái Thuỵ, tỉnh Thái Bình đã quyết định:
Áp dụng điểm a, d khoản 2 Điều 145; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự; Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 590 Bộ luật dân sự; Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.
1. Tội danh: Tuyên bố bị cáo Vũ Bá D phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”.
2. Hình phạt: Xử phạt bị cáo Vũ Bá D 3 năm 6 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
Ngoài ra, toà án cấp sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự, án phí và quyền kháng cáo.
Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Vũ Bá D kháng cáo giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.
Tại phiên toà, bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản án sơ thẩm. Bị cáo có nhân thân tốt, luôn chấp hành nghiêm các chính sách, pháp luật của nhà nước. Bị cáo chưa bị xử phạt vi phạm hành chính nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
Người đại diện theo pháp luật của bị hại bà Đào Thị T và ông Đoàn Năng H1 trình bày: Trước phiên toà ngày hôm nay, bị cáo D đã bồi thường thêm cho cháu Đoàn Thị H số tiền là 30 triệu đồng. Từ khi cháu H sinh con đến nay, bị cáo chăm chỉ làm ăn lấy tiền nuôi con nhỏ. Hiện nay, cháu H chưa có việc làm. Đề nghị HĐXX chấp nhận kháng cáo của bị cáo để bị cáo được tiếp tục đi làm nuôi con.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình sau khi phân tích toàn bộ nội dung vụ án, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của các bị cáo, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân cũng như nội dung kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Vũ Bá D, giảm từ 15-18 tháng tù cho bị cáo.
Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Toà án cấp phúc thẩm xem xét, chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Kháng cáo của bị cáo làm trong hạn luật định là hợp lệ nên được xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Xét kháng cáo của bị cáo:
[2.1] Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của các bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Trong khoảng thời gian tháng 9 và tháng 10 năm 2023 bị cáo Vũ Bá D đã 03 lần có hành vi quan hệ tình dục với cháu Đoàn Thị H, sinh ngày 18/12/2007. Trong đó 02 lần bị cáo có hành vi giao cấu với cháu H tại nhà nghỉ T2 thuộc thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình và 01 lần giao cấu với cháu H tại nhà ở của bị cáo tại thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình. Cả ba lần bị cáo đều xuất tinh vào trong âm đạo của cháu H, hậu quả làm cháu H có thai, tại thời điểm phạm tội Vũ Bá D đã đủ 18 tuổi, cháu Đoàn Thị H đã đủ 13 tuổi nhưng dưới 16 tuổi. Bị cáo là người trên 18 tuổi, nhận thức được tại thời điểm quan hệ tình dục cháu H đủ 13 tuổi nhưng chưa đủ 16 tuổi nhưng vẫn cố ý giao cấu với cháu H nhiều lần dẫn đến cháu H có thai. Cấp sơ thẩm điều tra, truy tố, xét xử bị cáo về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” quy định tại điểm a, d khoản 2 Điều 145 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[2.2] Xét kháng cáo của bị cáo thì thấy: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi của bị cáo đã xâm hại đến sự phát triển tâm sinh lý bình thường của người từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi, mục đích để thỏa mãn nhu cầu tình dục của bản thân. Xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì thấy: Bị cáo có nhân thân tốt, sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, tự nguyện thoả thuận bồi thường thiệt hại xong cho bị hại, bị hại và người đại diện hợp pháp của bị hại có đơn đề nghị giảm trách nhiệm hình sự cho bị cáo, bị cáo có thời gian phục vụ trong Q. Như vậy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bản án sơ thẩm xử phạt bị cáo 03 năm 06 tháng tù là có phần nghiêm khắc. Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm, bị cáo đã tự nguyện bồi thường thêm cho bị hại số tiền là 30 triệu đồng, là tình tiết giảm nhẹ mới. Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy giữ nguyên hình phạt tù nhưng giảm cho bị cáo một phần hình phạt cũng có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.
[3] Về án phí: Kháng cáo của bị cáo Vũ Bá D được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[4] Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 357, Điều 355 Bộ luật tố tụng hình sự: Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Vũ Bá D, sửa bản án hình sự sơ thẩm số 18/2025/HS-ST ngày 25/02/2025 của Tòa án nhân dân huyện Thái Thuỵ, tỉnh Thái Bình đối với bị cáo Vũ Bá Dư . Cụ thể:
1. Tội danh: Tuyên bố bị cáo Vũ Bá D phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”.
2. Hình phạt: Xử phạt bị cáo Vũ Bá D 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
II. Về án phí: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Vũ Bá D không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
III. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Chu Tuấn Vương |
Bản án số 65/2025/HS-PT ngày 26/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về hình sự phúc thẩm
- Số bản án: 65/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 26/05/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vũ Bá D phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”.
