Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 65/2025/HS-PT

Ngày: 17-3-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Triết.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Nữ Hoàng Yến - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk, xét xử theo thủ tục rút gọn phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 79/2025/TLPT-HS ngày 26 tháng 02 năm 2025, đối với bị cáo Lê Đức C về tội “Tàng trữ hàng cấm”. Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 05/2025/HS-ST ngày 24 tháng 01 năm 2025, của Tòa án nhân dân huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk.

*Bị cáo có kháng cáo: Lê Đức C, sinh năm 1982, tại tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn N, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Đức L (đã chết) và con bà Hoàng Thị D (đã chết); Bị cáo có vợ là Đỗ Thị V, sinh năm 1984 và 02 con, con lớn nhất sinh năm 2006, con nhỏ nhất sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/12/2024 đến nay – Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng giữa tháng 11/2024, trong khi đang làm vườn tại nhà thuộc thôn N, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. Lê Đức C gặp một người đàn ông (không rõ lai lịch) đang điều điều khiển xe môtô (không rõ nhãn hiệu, biển số) chở 02 thùng giấy cát tông đi qua, thấy C người này dừng xe lại hỏi “Có mua đồ chơi tết không”, C hỏi lại “Đồ gì”, người này trả lời “Pháo”, C hỏi tiếp “Pháo gì”, người này trả lời “Pháo hoa dàn 49 viên”, C hỏi “bao nhiêu”, người này nói “Năm trăm rưỡi một hộp”, C hỏi tiếp “Năm trăm được không”, người này trả lời “Được, giao dịch bằng hình thức nào”, C nói “Em chỉ có tiền mặt thôi”, người này hỏi “Lấy nhiều không” C trả lời “Chỉ có bốn triệu rưỡi lấy chín hộp thôi”. Rồi C đưa cho người đàn ông 4.500.000 đồng và lấy 9 hộp pháo nổ bỏ vào 01 bao xác rắn màu vàng mang về cất giấu tại chuồng gà phía sau nhà mục đích để sử dụng. Đến khoảng 20 giờ ngày 18/12/2024, thì bị Công an huyện E phát hiện thu giữa tại nhà Lê Đức C 01 bao xác rắn màu vàng, bên trong có 09 khối hộp hình vuông kích thước (17x12x10)cm nhiều màu sắc, bên ngoài có in chữ nước ngoài.

Tại bản kết luận giám định số 10/2025/KL-KTHS ngày 20/12/2024 của Phòng K Công an tỉnh K kết luận: 09 (chín) khối hộp hình vuông kích thước (17x12x10)cm gửi giám định đều là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi đốt có gây tiếng nổ). Tổng trọng lượng của 09 (chín) khối hộp là 15,348kg (mười lăm phẩy ba bốn tám kilogam).

Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 05/2025/HS-ST ngày 24 tháng 01 năm 2025, của Tòa án nhân dân huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Lê Đức C phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Đức C 09 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 19/12/2024).

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, về án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm ngày 06/02/2025, bị cáo có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo và khai nhận toàn bộ hành vi mà bị cáo đã thực hiện, đúng như nội dung vụ án đã nêu.

Quá trình tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk đã phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Lê Đức C phạm tội: “Tàng trữ hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Mức hình phạt 09 tháng tù là phù hợp so với tính chất mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện. Tuy nhiên, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Tại cấp phúc thẩm bị cáo cung cấp giấy khen của ông Lê Đức T chú ruột bị cáo là người có công trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước đã được tặng Huy chương kháng chiến hạng nhất và có bố là ông Lê Đức L là đối tượng trực tiếp tham gia kháng chiến chông Mỹ cứu nước. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Đồng thời bị cáo có nhân thân tốt, bị cáo là lao động chính trong gia đình, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, nhất thời phạm tội và có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên không cần thiết phải cách ly bị cáo với xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo cũng đảm bảo việc cải tạo, giáo dục các bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm e khoản Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự: Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Lê Đức C, sửa bản án sơ thẩm về biện pháp chấp hành hình phạt tù.

Áp dụng c khoản 1 Điều 191; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2 Điều 65 của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Lê Đức C 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bị cáo không tranh luận, bào chữa gì thêm, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm và các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Vào ngày 18/12/2024, tại nhà bị cáo thuộc thôn N, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk bắt quả tang bị cáo Lê Đức C đã có hành vi tàng trữ trái phép khối lượng 15,348kg pháo nổ. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội “Tàng trữ hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đảm bảo đúng người, đúng tội.

[2] Xét đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Mức hình phạt 09 tháng tù mà Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo cung cấp giấy khen của ông Lê Đức T chú ruột bị cáo là người có công trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước được tặng Huy chương kháng chiến hạng nhất và có bố là ông Lê Đức L là đối tượng trực tiếp tham gia kháng chiến chông Mỹ cứu nước nhưng mức hình phạt được áp dụng đối với bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử giữ nguyên về mức hình phạt. Tuy nhiên, việc bản án sơ thẩm buộc cách ly bị cáo với xã hội, là có phần nghiêm khắc so với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo. Bởi vì, bị cáo phạm tội nhưng có nhiều tình tiết giảm nhẹ là: Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo và tỏ rõ sự ăn năn hối cải; Bị cáo có chú ruột là ông Lê Đức T là người có công trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước đã được tặng Huy chương kháng chiến hạng nhất và có bố là ông Lê Đức L là đối tượng trực tiếp tham gia kháng chiến chông Mỹ cứu nước. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Đồng thời bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, bị cáo nhất thời phạm tội, nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo cũng đảm bảo việc cải tạo, giáo dục bị cáo. Do vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo, sửa bản án hình sự sơ thẩm về biện pháp chấp hành hình phạt tù. Giữ nguyên mức hình phạt tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ giáo dục bị cáo thành người tốt, có ích cho xã hội.

[3] Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận, nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì những lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Lê Đức C; Sửa bản án sơ hình sự thẩm số 05/2025/HS-ST ngày 24 tháng 01 năm 2025, của Tòa án nhân dân huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk về biện pháp chấp hành hình phạt tù.

Tuyên bố: Bị cáo Lê Đức C phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”.

[2] Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các khoản 1, 2 và 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Lê Đức C 09 (Chín) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 18 (Mười tám) tháng, tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Giao bị cáo Lê Đức C cho Ủy ban nhân dân xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk, để giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự năm 2019.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.

[3] Áp dụng khoản 4 Điều 328 Bộ Luật Tố tụng hình sự trả tự do cho bị cáo ngay tại phiên tòa (Có Quyết định kèm theo).

[3] Về án phí: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Lê Đức C không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[5] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Đà Nẵng;
  • - VKSND tỉnh Đắk Lắk (02 bản);
  • - Phòng HSNV Công an tỉnh Đắk Lắk;
  • - VP CQCSĐT Công an tỉnh Đắk Lắk;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Đắk Lắk;
  • - Sở Tư pháp;
  • - TAND huyện Ea Kar;
  • - VKSND huyện Ea Kar;
  • - Công an huyện Ea Kar;
  • - Chi cục THADS huyện Ea Kar;
  • - THAHS huyện Ea Kar;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Đình Triết

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 65/2025/HS-PT ngày 17/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK về hình sự (tàng trữ hàng cấm)

  • Số bản án: 65/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ hàng cấm)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 17/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: giua thang 11/2024 C mua 9 hop phao choi tet bi bat qua tang
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger