|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 65/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 27/6/2025
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Kiều Oanh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Thắm;
- Bà Nguyễn Kim Lý.
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thắm – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trung - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 319/2025/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 5 năm 2025 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 134/2025/QĐXXST–HNGĐ ngày 26 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 28/2025/QÐST-HNGĐ ngày 11 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Ngọc B, sinh năm 1985; địa chỉ thường trú: Thôn F, xã T, huyện B, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt có Đơn xin giải quyết vắng mặt.
- Bị đơn: Ông Bùi Châu P, sinh năm 1982; địa chỉ thường trú: Tổ C, khu phố K, phường A, thành phố B, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong Đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn bà Phạm Thị Ngọc B trình bày:
Bà Phạm Thị Ngọc B và ông Bùi Châu P chung sống và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Đắk Lắk vào năm 2021 theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 28/2021 ngày 13/5/2021. Hôn nhân giữa hai người là tự nguyện. Quá trình chung sống đến khoảng năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn bà B nhận thấy tính tình vợ chồng không hợp, thường xuyên cãi vã, mâu thuẫn vợ chồng không thể hàn gắn được. Hiện tại, không ai quan tâm chăm sóc nhau. Bản thân và gia đình hai bên đã tiến hành hòa giải nhiều lần nhưng không hòa giải được. Do đó, cuộc sống hôn nhân không thể kéo dài, cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc nên bà B khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông P. Hiện tại, bà B và ông P không còn sống chung nhà và đã ly thân khoảng gần 02 năm nay.
Về con chung: Bà Phạm Thị Ngọc B và ông Bùi Châu P có 01 người con chung tên: Bùi Ngọc Như Ý, sinh ngày 28/7/2020. Từ thời điểm sống ly thân cho đến nay, bà B trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Ý, ông P không đến trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Do đó, nay bà Phạm Thị Ngọc B yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung và không yêu cầu ông Bùi Châu P cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà Phạm Thị Ngọc B không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Bùi Châu P: Ông P đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng: Thông báo về việc thụ lý vụ án; thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập hợp lệ. Tuy nhiên, ông P không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án, vắng mặt không có lý do. Ông P không có văn bản trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện của bà B và không cung cấp tài liệu, chứng cứ nào cho Tòa án.
Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát tham gia phiên toà:
- - Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến khi mở phiên tòa, Thẩm phán, Thư ký đã tiến hành đúng, đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định. Tính đến ngày Tòa án có quyết định đưa vụ án ra xét xử, vụ án còn trong thời hạn chuẩn bị xét xử theo Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng và đầy đủ về quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định pháp luật và có đơn xin xét xử vắng mặt. Đối với bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải và xét xử, nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do là không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở để Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn. Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định pháp luật.
- - Về nội dung vụ án: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.
- - Những yêu cầu, kiến nghị khắc phục vi phạm: Không.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra và tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Các đương sự tranh chấp ly hôn và nuôi con, bị đơn có đăng ký thường trú và hiện sinh sống tại tổ C, khu phố K, phường A, thành phố B, tỉnh Bình Dương nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp là: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[1.2] Về việc vắng mặt của các đương sự: Nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 227; khoản 1 khoản 3 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[1.3] Về chứng cứ: Quá trình tố tụng, bị đơn vắng mặt không có lý do, không cung cấp chứng cứ, không gửi ý kiến trình bày đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên coi như từ chối quyền tự bảo vệ của mình và chịu hậu quả pháp lý theo quy định của pháp luật. Tòa án đã tổ chức phiên họp công khai giao nộp và tiếp cận chứng cứ ngày 26/5/2025, gửi kết quả cho các đương sự nhưng không ai có ý kiến thắc mắc, không yêu cầu Tòa án thu thập thêm chứng cứ nào khác, ngoài chứng cứ có trong hồ sơ. Do đó, Tòa án căn cứ vào lời trình bày của bà B, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp và chứng cứ do Tòa án thu thập được làm căn cứ giải quyết vụ án.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn và bị đơn trên cơ sở tự nguyện đã đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Đắk Lắk vào năm 2021 theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 28/2021 ngày 13/5/2021. Như vậy, hôn nhân giữa nguyên đơn và bị đơn là hôn nhân hợp pháp.
Bà B trình bày, sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc với nhau được một thời gian thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, không hợp tính nhau dẫn đến thường xuyên cãi vã. Gia đình hai bên nhiều lần tổ chức hòa giải nhưng vợ chồng không có tiếng nói chung, không thể hòa hợp, hôn nhân không còn hành phúc. Hiện tại, bà B và ông P không còn sống chung nhà và đã ly thân khoảng gần 02 năm nay.
Xét thấy, để có căn cứ xác định lời trình bày của bà B về trình trạng mâu thuẫn hôn nhân vợ chồng. Tòa án đã tiến hành xác minh tại nơi cư trú và sinh sống của bà B và ông P, về tình trạng mâu thuẫn hôn nhân vợ chồng và nguyên nhân mâu thuẫn thì địa phương không rõ, vì khi xảy ra mâu thuẫn cả hai không báo địa phương để tổ chức hòa giải. Tòa án đã tiến hành triệu tập ông P để làm rõ lời trình bày của bà B và tổ chức hòa giải đoàn tụ gia đình nhưng ông P không tham gia, không gửi ý kiến trình bày, vắng mặt không có lý do. Điều này thể hiện thái độ thờ ơ, không còn quan tâm đến hạnh phúc gia đình của ông P.
Do đó, Hội đồng xét xử thấy có căn cứ xác định tình trạng hôn nhân giữa nguyên đơn và bị đơn đã trầm trọng, đời sống hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
[2.2] Về con chung: Quá trình chung sống, vợ chồng bà B và ông P có 01 người con chung tên: Bùi Ngọc Như Ý, sinh ngày 28/7/2020. Khi ly hôn, bà B yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung.
Xét thấy, cháu Bùi Ngọc Như Ý còn nhỏ cần sự chăm sóc của người mẹ hơn. Mặt khác, bà B cũng là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Ý từ lúc sinh ra cho đến nay. Bà B có điều kiện kinh tế ổn định, đủ điều kiện chăm sóc con chung. Sau khi ly hôn để không làm thay đổi tâm sinh lý của cháu Ý, việc giao cháu Ý cho bà B tiếp tục trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng là phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Bà B không yêu cầu ông P phải cấp dưỡng nuôi con nữa. Xét đây là sự tự nguyện của nguyên đơn nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Bị đơn ông P có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được cản trở ông P thực hiện các quyền, nghĩa vụ này. Khi cần thiết, vì lợi ích của con, một hoặc cả hai bên đều có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con.
[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Bà B không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Từ những phân tích như trên, xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên được chấp nhận.
[3] Xét ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương là phù hợp với quy định của pháp luật nên có căn cứ chấp nhận.
[4] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 36, 39, 147, 227, 228, 238, 266, 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị Ngọc B đối với bị đơn ông Bùi Châu P về việc: “Ly hôn và tranh chấp nuôi con”.
- - Về hôn nhân: Bà Phạm Thị Ngọc B được ly hôn ông Bùi Châu P.
- Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật, Giấy chứng nhận kết hôn số 28 do Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 13/5/2021 cho bà Phạm Thị Ngọc B và ông Bùi Châu P không còn giá trị pháp lý.
- - Về con chung: Giao 01 người con chung tên: Bùi Ngọc Như Ý, sinh ngày 28/7/2020 cho bà Phạm Thị Ngọc B trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
- Ông Bùi Châu P có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được cản trở ông Bùi Châu P thực hiện các quyền, nghĩa vụ này. Khi cần thiết, vì lợi ích của con, một hoặc cả hai bên đều có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con.
- - Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Ông Bùi Châu P không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
- - Về tài sản chung, nợ chung: Không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét giải quyết.
- Về án phí: Bà Phạm Thị Ngọc B phải nộp số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án ký hiệu: BLTU/24 số 0003552 ngày 07/5/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
Nơi nhận:TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
|
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Kiều Oanh |
Bản án số 65/2025/HNGĐ-ST ngày 27/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 65/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
