Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRI TÔN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 65/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 27-6-2025

V/v "Tranh chấp ly hôn, nuôi con"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN, TỈNH AN GIANG

-

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Trung Hiếu.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Chau Rót Tha.

Ông Mai Văn Tài.

Thư ký phiên tòa: Ông Chau Chanh Đô Ra– Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn tham gia phiên tòa: Ông Chau Pho Ly - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 424/2024/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 12 năm 2024 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 107/2025/QĐSXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số:90/2025/QĐSXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 6 năm 2025 giữa các đương sự:

  • Nguyên đơn: Bà Neáng Sóc K, sinh năm: 1989; địa chỉ: Tổ B, ấp P, xã Ô, huyện T, tỉnh An Giang. Có mặt
  • Bị đơn: Ông Pếch Som B, sinh năm 1994; địa chỉ: Tổ B, ấp P, xã Ô, huyện T, tỉnh An Giang. Vắng mặt
  • Những người tham gia tố tụng khác: Người phiên dịch tiếng Khmer: Ông Kim S, sinh năm 1964; địa chỉ: xã C, huyện T, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, tờ tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Neáng Sóc K trình bày:

- Về hôn nhân: Bà Neáng Sóc K và ông Pếch Som B do tự quen biết, tìm hiểu và tiến tới kết hôn trên cơ sở tự nguyện vào năm 2010, có làm lễ cưới, sau đó có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Ô, huyện T, tỉnh An Giang vào ngày 12/4/2017. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, nhưng thời gian sau vợ chồng mẫu thuẫn ngày càng nhiều do tính tình không phù hợp, bất đồng quan điểm sống, ông B không quan tâm lo lắng cho vợ con và vợ chồng không còn thương yêu nhau. Bà và ông B hiện còn sông chung nhà nhưng cả hai không có thiện chí đoàn tụ nên mâu thuẫn vợ chồng không thể hàn gắn. Nhận thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt nên bà K yêu cầu được ly hôn với ông Pếch Som B.

- Về con chung: Bà K và ông B có 02 (hai) con chung tên Pếch Pênh L, sinh ngày 14/8/2010 và Néang Vi S1, sinh ngày 26/4/2022, hiện các con chung do đang chung sống cùng gia đình. Sau khi ly hôn bà K có nguyện vọng được nuôi dưỡng 02 con chung.

- Về cấp dưỡng: Yêu cầu ông B cấp dưỡng theo mức quy định pháp luật cho con chung đên đi con chung đủ 18 tuổi.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu toà án giải quyết.

Bị đơn ông Pếch S2 Bô vắng mặt, không cung cấp tài liệu, chứng cứ, không cung cấp ý kiến trình bày.

Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành hòa giải vụ án, nhưng bị đơn vắng mặt vì vậy các đương sự không hòa giải được với nhau. Tòa án tiến hành đưa vụ án ra xét xử.

Tại phiên tòa,

Bà N áng Sóc K vẫn giữ vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; Ông Pếch Som B vắng mặt không lý do không có ý kiến trình bày.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:

Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử vụ án;

Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự.

Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

+ Về nội dung vụ án:

Về hôn nhân: Bà Neáng Sóc K và ông Pếch Som B tiến tới hôn nhân trên cơ sở tự nguyện vào năm 2010 và có đăng ký kết hôn theo quy định tại Ủy ban nhân dân xã Ô, huyện T, tỉnh An Giang vào năm 2017 nên ông B và bà K là vợ chồng hợp pháp, trong quá trình chung sống cả hai phát sinh nhiều mâu thuẫn mà đến nay mà không thể hàn gắn được, chứng tỏ hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng, nên bà Neáng Sóc K khởi kiện yêu cầu ly hôn ông Pếch Som B là có cơ sở chấp nhận theo quy định tại Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về con chung: Bà K và ông B có 02 (hai) con chung tên Pếch Pênh L, sinh ngày 14/8/2010 và Néang Vi S1, sinh ngày 26/4/2022. Hiện nay các con chung đang sống chung trong gia đình với bà K nên đề nghị giao 02 (hai) con chung cho bà K trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng theo quy định tại Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về cấp dưỡng: Đề nghị buộc ông P Som Bô phải có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi 02 (hai) con chung tên Pếch Pênh L, sinh ngày 14/8/2010 và Néang Vi S1, sinh ngày 26/4/2022 mỗi tháng là 1.725.000 đồng/con chung, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi, có đủ khả năng lao động hoặc tài sản tự nuôi sống bản thân, trừ trường hợp chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định pháp luật.

Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét, giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bà N1 Sóc Kim yêu cầu Tòa án giải quyết việc tranh chấp về hôn nhân gia đình với ông Pếch Som B. Ông Pếch Som B có nơi cư trú tại xã Ô, huyện T, tỉnh An Giang. Nên, Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền được quy định tại các Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa, bị đơn ông Pếch S2 Bô dù đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị đơn .

[2] Về hôn nhân: Bà Neáng Sóc K và ông Pếch Som B do tự quen biết, tìm hiểu và tiến tới kết hôn trên cơ sở tự nguyện vào năm 2010 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Ô, huyện T, tỉnh An Giang vào ngày 12/4/2017, nên được pháp luật công nhận là vợ chồng theo quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và G. Bà K trình bày nguyên nhân mâu thuẫn chủ yếu do tính tình không phù hợp, bất đồng quan điểm sống, ông B không quan tâm lo lắng cho vợ con và vợ chồng không còn thương yêu nhau nên bà N1 Sóc Kim yêu cầu được ly hôn với ông Pếch Som B.

Trong quá trình giải quyết vụ án, ông B vắng mặt không lý do, theo Biên bản xác minh của Tòa án tại địa phương trả kết quả thể hiện: Ông Pếch Som B, có nơi đăng ký thường trú tại ấp P, xã Ô, huyện T, tỉnh An Giang. Do bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt, đồng thời không cung cấp tài liệu, chứng cứ để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình và thể hiện ý kiến phản bác đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bị đơn đã từ bỏ quyền, nghĩa vụ của đương sự theo quy định tại khoản 5 Điều 70 Bộ luật tố tụng dân sự.

Xét thấy, trong mối quan hệ vợ chồng, thì cả hai phải có nghĩa vụ yêu thương, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, để cùng vun đắp hạnh phúc. Tuy nhiên gia đình bà K và ông B đã phát sinh nhiều mâu thuẫn không có giải pháp hòa giải, thời gian ly thân đã lâu mà không hàn gắn được. Tòa án đã nhiều lần triệu tập ông B tham gia hòa giải và xét xử đến lần thứ hai nhưng ông B vẫn vắng mặt không có lý do, thể hiện ông M không muốn hàn gắn quan hệ vợ chồng. Bà K trình bày mâu thuẫn vợ chồng phát sinh từ lâu mà không thể hàn gắn, nên bà Kim cương Q ly hôn ông B. Điều đó chứng tỏ tình trạng hôn nhân của bà K và ông B đã lâm vào trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, nếu duy trì hôn nhân cũng không đem lại hạnh phúc cho cả hai. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà N1 Sóc Kim được ly hôn ông Pếch Som B.

[3] Về con chung: Bà K và ông B có 02 (hai) con chung tên Pếch Pênh L, sinh ngày 14/8/2010 và Néang Vi S1, sinh ngày 26/4/2022, hiện các con chung do bà K chăm sóc. Sau khi ly hôn bà K có nguyện vọng được nuôi dưỡng 02 cháu L và cháu S1. Yêu cầu ông B cấp dưỡng theo quy định pháp luật cho con chung đên đi con chung đủ 18 tuổi.

Do ông B không có tranh chấp nuôi con chung, các con chung hiện chưa thành niên. Trong quá trình giải quyết vụ án, tại biên bản ghi lời khai cháu P Pênh Lư có nguyện vọng được chung sống với mẹ sau khi cha mẹ ly hôn. Xét về điều kiện, để đảm bảo cho cuộc sống ổn định, lợi ích về mọi mặt của các con chung. Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Neáng Sóc K được trực tiếp nuôi dưỡng, nuôi dưỡng 02 (hai) con chung.

Bà K cùng các thành viên gia đình không được cản trở ông B trong việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

[4] Về cấp dưỡng: Theo quy định của pháp luật, sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Tại đơn khởi kiện, bà K có yêu cầu ông B cấp dưỡng cho 02 (hai) con chung theo mứcquy định của pháp luật, cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi. Trong quá trình giải quyết vụ án, không ghi nhận được ý kiến của bị đơn về yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung, nên Hội đồng xét xử căn cứ theo khoản 2 Điều 7 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong việc giải quyết vụ việc về hôn nhân gia đình “...mức cấp dưỡng do Tòa án quyết định nhưng không thấp hơn một nửa tháng lương tối thiểu vùng tại nơi người cấp dưỡng đang cư trú cho mỗi tháng đối với mỗi người con”, do ông B có nơi cư trú tại huyện T nên theo Điều 3 Nghị định số 74/2024/NĐ-CP ngày 30/6/2024 của Chính Phủ quy định mức lương tối thiểu của người lao động làm việc theo hợp đồng lao động thì mức lương tối thiểu của huyện T thuộc vùng IV là 3.450.000 (ba triệu bốn trăm năm mươi nghìn) đồng/tháng, cho nên mức cấp dưỡng của ông B phải cấp dưỡng cho mỗi con chung là một nửa tháng lương tối thiểu vùng nơi ông Pếch S2 Bô cư trú là 1.725.000 đồng /tháng, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi cháu Pếch Pênh L, sinh ngày 14/8/2010 và Néang Vi S1, sinh ngày 26/4/2022 đủ 18 tuổi, có đủ khả năng lao động hoặc tài sản tự nuôi sống bản thân, trừ trường hợp chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định pháp luật. Mức cấp dưỡng được điều chỉnh theo từng thời điểm do pháp luật quy định.

[5] Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xét đến.

[6] Về án phí: Bà K phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Ông Pếch Som B không phải chịu án phí.

[7] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được kháng cáo theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

  • - Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 228; khoản 1 Điều 273; khoản 1 Điều 280; Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
  • - Điều 51; Điều 56; Điều 57; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84; Điều 107; Điều 110 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
  • - Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Neáng Sóc K.

  1. Về hôn nhân: Bà N1 Sóc Kim được ly hôn ông Pếch Som B.
  2. Về con chung: Giao 02 (hai) con chung tên Pếch Pênh L, sinh ngày 14/8/2010 và Néang Vi S1, sinh ngày 26/4/2022 cho bà N1 Sóc Kim trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

    Bà K và gia đình phải tạo điều kiện thuận lợi cho ông B được thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.

    Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

  3. Về cấp dưỡng: Buộc ông Pếch Som B phải có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi 02 (hai) con chung tên Pếch Pênh L, sinh ngày 14/8/2010 và Néang Vi S1, sinh ngày 26/4/2022, mức cấp dưỡng cho mỗi con chung là 1.725.000 (một triệu bảy trăm hai mươi lăm nghìn) đồng/tháng, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, có đủ khả năng lao động hoặc tài sản tự nuôi sống bản thân, trừ trường hợp chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định pháp luật. Mức cấp dưỡng được điều chỉnh theo từng thời điểm do pháp luật quy định.
  4. Về án phí: Bà Neáng Sóc K phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0012917, ngày 10 tháng 12 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tri Tôn. Bà K đã nộp xong án phí.
  5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.

    Bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND huyện Tri Tôn;
  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - Chi cục THADS huyện Tri Tôn;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu VP (6).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Trung Hiếu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 65/2025/HNGĐ-ST ngày 27/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 65/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger