Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LÂM

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

Bản án số: 65/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 26-02-2025

V/v: Tranh chấp ly hôn

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LÂM

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thiên Hương

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hoàng Trung

Bà Nguyễn Thị Dung

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Phương – Thư ký TAND huyện Gia Lâm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lâm tham gia phiên toà: Ông Vũ Văn Thế - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 02 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 439/2024/TLST – HNGĐ ngày 04 tháng 11 năm 2024 về việc tranh chấp “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 01 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 05/2025/QĐST-HPT ngày 21/01/2025 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Anh Nguyễn Trọng C, sinh năm 2001; Nơi cư trú: Khu phố D, phường X, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh. “Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt”

* Bị đơn: Chị Hoàng Thị Phương A, sinh năm 2003; Nơi cư trú: Thôn G, xã K (nay là xã P), huyện G, thành phố Hà Nội. “Vắng mặt”

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 02/11/2024, các lời khai tại Tòa án trong quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa nguyên đơn anh Nguyễn Trọng C trình bày:

Về tình cảm: Tôi và chị Hoàng Thị Phương A, sinh năm 2003; Nơi cư trú: Thôn G, xã K, huyện G, thành phố Hà Nội có tìm hiểu nhau và đi đến kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 07/3/2023 tại Ủy ban nhân dân xã X, huyện T, tỉnh Bắc Ninh (Nay là phường X, thị xã T). Sau khi kết hôn, vợ chồng tôi cùng chung sống với bố mẹ đẻ tôi tại địa chỉ: Khu phố D, phường X, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh. Tuy nhiên sau khoảng 01 tháng chung sống hạnh phúc, chị Phương A bỏ về nhà bố mẹ đẻ, tôi đã cố gắng nói chuyện với chị Phương A rất nhiều lần nhưng chị Phương A vẫn cố tình bỏ về nhà ngoại từ tháng 03 năm 2023 cho đến nay. Bố mẹ tôi đã gọi điện để nói chuyện với chị Phương A và bố mẹ đẻ chị Phương A và bố mẹ chị đều lảng tránh, không nói chuyện với bố mẹ tôi. Tôi có đến nhà tìm chị Phương A một vài lần nhưng bố mẹ chị đều nói chị không có nhà. Vợ chồng tôi ly thân với nhau từ đó đến nay, tôi yêu cầu Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với chị Phương A.

Về con chung: Tôi và chị Phương A có 01 con chung. Lúc đầu tôi không rõ tên con là gì do chị Phương A tự đi làm giấy khai sinh. Sau qua trao đổi tôi mới biết con tên là Hoàng Anh T, sinh ngày 19/8/2023. Khi ly hôn, tôi đồng ý giao con cho chị Phương A trực tiếp nuôi dưỡng và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn chị Hoàng Thị Phương A vắng mặt tại phiên tòa, có lời khai trong quá trình chuẩn bị xét xử như sau: Tôi và anh Nguyễn Trọng C, sinh năm 2001, có tìm hiểu và kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã X, huyện T (nay là thị xã T), tỉnh Bắc Ninh ngày 07/3/2023. Sau khi kết hôn, hai vợ chồng tôi sinh sống tại gia đình nhà chồng ở địa chỉ tại thôn D, xã X, huyện T (nay là thị xã T), tỉnh Bắc Ninh. Vợ chồng tôi chung sống với nhau khoảng 02 tháng thì nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung. Đỉnh điểm, đến ngày 30/4 – 01/5 năm 2023, vợ chồng tôi cãi nhau và tôi có chuyển về nhà mẹ đẻ tại thôn G, xã K (nay là xã P) sinh sống cho đến nay. Vợ chồng tôi cũng đã chính thức ly thân, cắt đứt mọi liên lạc và quan hệ tình cảm từ thời điểm đó. Nay anh C có đơn xin ly hôn với tôi, tôi xác định tình cảm vợ chồng đã hết nên tôi đồng ý ly hôn.

Về con chung: Tôi và chị anh C có 01 con chung là cháu Hoàng Anh T, sinh ngày 19/8/2023. Nguyện vọng của tôi là được trực tiếp nuôi dưỡng cháu T, tôi không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Chúng tôi không yêu cầu Tòa giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lâm kiểm sát việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa phát biểu ý kiến: Tòa án huyện G thụ lý vụ án đúng thẩm quyền; Thẩm phán tiến hành tố tụng, xác định quan hệ pháp luật đúng; Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án tại phiên tòa đúng quy định của pháp luật, đảm bảo đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của các đương sự khi tham gia tố tụng; Nguyên đơn chấp hành pháp luật, bị đơn không chấp hành pháp luật.

Căn cứ các Điều 19, 51, 56, 81, 82, 83 Luật HNGĐ năm 2014:

+ Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn xin ly hôn của anh Nguyễn Trọng C. Anh C được ly hôn với chị Phương A

+ Về con chung: Anh C và chị Phương A có 01 con chung là cháu Hoàng Anh T, sinh ngày 19/8/2023. Anh C và chị Phương A thống nhất giao con cho chị Phương A trực tiếp nuôi dưỡng, do vậy có căn cứ giao cháu T cho chị Phương A là mẹ đẻ trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu T đủ 18 tuổi hoặc cho đến khi có yêu cầu mới.

+ Về cấp dưỡng nuôi con: Anh C và chị Phương A không yêu cầu, không xem xét giải quyết.

+ Về tài sản chung, nợ chung vợ chồng: Anh C không yêu cầu, không xem xét giải quyết.

+ Về án phí: Vụ án thụ lý từ ngày 04/11/2024, nên áp dụng Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội để giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Nhận định về tố tụng: Anh C có đơn yêu cầu ly hôn, căn cứ khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền loại việc của Tòa án. Về thẩm quyền theo lãnh thổ: chị Phương A là bị đơn có đăng ký hộ khẩu thường trú tại Thôn G, xã K (nay là xã P), huyện G, thành phố Hà Nội; Căn cứ vào khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, TAND huyện Gia Lâm thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo lãnh thổ và cấp Tòa án.

[2] Nhận định về việc xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn tại phiên tòa: Xét thấy tại phiên tòa hôm nay, anh C vắng mặt có đơn xin vắng mặt, chị Phương A vắng mặt lần thứ 2 không có lý do chính đáng, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của BLTTDS, HĐXX quyết định xét xử vắng mặt cả nguyên đơn, bị đơn là có căn cứ.

[2]. Nhận định về tình cảm, mâu thuẫn vợ chồng: Anh Nguyễn Trọng C và chị Hoàng Thị Phương A đăng ký kết hôn ngày 07/3/2023 tại UBND xã X, huyện T (nay là thị xã T), tỉnh Bắc Ninh, có xuất trình giấy đăng ký kết hôn, đủ cơ sở kết luận đây là cuộc hôn nhân hợp pháp.

- Về mâu thuẫn vợ chồng: Anh C và chị Phương A cùng xác định vợ chồng có mẫu thuẫn trầm trọng dẫn đến tháng 4/2023 vợ chồng sống ly thân với nhau. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung. Chi tiết này anh C và chị Phương A khai phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bà U – là mẹ đẻ anh C, phù hợp với thông tin chính quyền địa phương cung cấp nên đủ cơ sở khẳng định anh C và chị Phương A có mâu thuẫn trầm trọng dẫn đến đời sống chung vợ chồng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cho anh C được ly hôn với chị Phương A là phù hợp với các Điều 19, 56 của Luật hôn nhân và gia đình.

[4]. Nhận định về con chung vợ chồng: Anh C và chị Phương A có 01 con chung là cháu Hoàng Anh T, sinh ngày 19/8/2023 thể hiện bằng trích lục khai sinh. Hiện cháu T đang ở với chị Phương A thể hiện tại bản tự khai của chị Phương A, tài liệu chính quyền địa phương cung cấp nên được ghi nhận. Khi ly hôn, chị Phương A có nguyện vọng muốn nuôi con, anh C nhất trí giao con cho chị Phương A nuôi dưỡng. Xét chị Phương A có nơi ăn ở ổn định, chị Phương A đang nuôi con nên xét giao cháu T cho chị Phương A chăm sóc và nuôi dưỡng là đảm bảo quyền lợi mọi mặt cho cháu T theo khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình. Anh C và chị Phương A không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, HĐXX không xem xét giải quyết.

[5]. Nhận định về tài sản chung, nợ chung vợ chồng: Anh C không yêu cầu, HĐXX không xem xét giải quyết.

[6]. Nhận định về án phí ly hôn sơ thẩm: Yêu cầu xin ly hôn của anh C được chấp nhận, anh C phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

  • + Các Điều 28, 35, 39, 227, 271, 273, 277, khoản 4 Điều 147, của Bộ luật tố tụng dân sự;
  • + Các Điều 19, 51, 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
  • + Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Nguyễn Trọng C đối với chị Hoàng Thị Phương A. Xử cho anh Nguyễn Trọng C được ly hôn với chị Hoàng Thị Phương A.
  2. Về con chung: Anh Nguyễn Trọng C và chị Hoàng Thị Phương A có 01 con chung là cháu Hoàng Anh T, sinh ngày 19/8/2023. Khi ly hôn, giao cháu Hoàng Anh T cho chị Hoàng Thị Phương A trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cho đến khi cháu T đủ 18 tuổi hoặc cho đến khi có yêu cầu mới. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con của anh C cho chị Phương A cho đến khi cháu T đủ 18 tuổi hoặc cho đến khi có yêu cầu mới.

    Anh Nguyễn Trọng C không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

  3. Về tài sản chung, nợ chung vợ chồng: Tòa án không xem xét giải quyết.
  4. Về án phí: Anh Nguyễn Trọng C phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Anh C đã nộp 300.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai số 0065556 ngày 01/11/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gia Lâm, nay chuyển thành án phí ly hôn.

Theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

  1. Về quyền kháng cáo: Báo cho anh Nguyễn Trọng C, chị Hoàng Thị Phương A vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • -Các đương sự;
  • -VKSND h. Gia Lâm;
  • -Chi cục THADS h. Gia Lâm;
  • -TANDTP. Hà Nội;
  • -VKSNDTP Hà Nội;
  • - Lưu hồ sơ;
  • -Lưu văn phòng;
  • -UBND phường Xuân Lâm, thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh (ĐKKH số 10 ngày 07/3/2023).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Vũ Thiên Hương

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 65/2025/HNGĐ-ST ngày 26/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LÂM về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 65/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LÂM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Căn cứ: + Các Điều 28, 35, 39, 227, 271, 273, 277, khoản 4 Điều 147, của Bộ luật tố tụng dân sự; + Các Điều 19, 51, 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; + Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử: 1. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Nguyễn Trọng C đối với chị Hoàng Thị Phương A. Xử cho anh Nguyễn Trọng C được ly hôn với chị Hoàng Thị Phương A. 2. Về con chung: Anh Nguyễn Trọng C và chị Hoàng Thị Phương A có 01 con chung là cháu Hoàng Anh T, sinh ngày 19/8/2023. Khi ly hôn, giao cháu Hoàng Anh T cho chị Hoàng Thị Phương A trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cho đến khi cháu T đủ 18 tuổi hoặc cho đến khi có yêu cầu mới. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con của anh C cho chị Phương A cho đến khi cháu T đủ 18 tuổi hoặc cho đến khi có yêu cầu mới. Anh Nguyễn Trọng C không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. 3. Về tài sản chung, nợ chung vợ chồng: Tòa án không xem xét giải quyết. 4. Về án phí: Anh Nguyễn Trọng C phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Anh C đã nộp 300.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai số 0065556 ngày 01/11/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gia Lâm, nay chuyển thành án phí ly hôn. Theo quy định tại Diều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. 5. Về quyền kháng cáo: Báo cho anh Nguyễn Trọng C, chị Hoàng Thị Phương A vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger