TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A TỈNH HẬU GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 65/2025/HNGĐ-ST Ngày: 24 – 6 – 2025 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Thanh
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Văn Thanh
- Ông Võ Văn Thành
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Thông – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Huyền T - Kiểm sát viên.
Trong ngày 24 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 268/2024/TL.ST-HNGĐ, ngày 20 tháng 12 năm 2024 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 95/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kiều H, sinh ngày 01/01/1998;
- Bị đơn: Ông Nguyễn Anh K, sinh ngày 20/04/1979;
Nơi cư trú: Ấp R, xã H, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.
CCCD số: [...], cấp ngày 22/3/2023.
Nơi cư trú: Ấp A, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang.
CCCD số: [...], cấp ngày 20/8/2021.
Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn xin ly hôn và quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn Nguyễn Thị Kiều H trình bày:
Bà và ông Nguyễn Anh K có quen biết, tìm hiểu nhau, tự nguyện tiến tới hôn nhân, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang theo Giấy chứng nhận kết hôn số 17 ngày 20/3/2023. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến khoảng tháng 8 năm 2024 vợ chồng bắt đầu xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau nên ly thân cho đến nay. Bà thấy cuộc sống vợ chồng không mang lại hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà ly hôn với ông K.
Về con chung: Không có, không yêu cầu giải quyết
Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
Bà H có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
Quá trình tố tụng, ông Nguyễn Anh K vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của pháp luật về tố tụng dân sự và xin vắng mặt. Bị đơn vắng mặt trong quá trình tố tụng, vắng mặt tại phiên tòa được mở lần thứ hai. Vì vậy, Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp.
- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H, chấp thuận cho bà H ly hôn với ông K; về con chung: Không có; về tài sản chung và nợ chung không có nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Bà Nguyễn Thị Kiều H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Nguyễn Anh K, bị đơn ông K cư trú tại huyện C, tỉnh Hậu Giang. Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì đây là vụ án hôn nhân và gia đình về việc ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang.
[1.2] Tại phiên tòa, bà Nguyễn Thị Kiều H vắng mặt có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; bị đơn ông Nguyễn Anh K vắng mặt không có lý do dù đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
[2] Về nội dung giải quyết vụ án:
[2.1] Xét yêu cầu ly hôn của nguyên đơn: Giữa bà Nguyễn Thị Kiều H và ông Nguyễn Anh K quen biết, có thời gian tìm hiểu nhau và tự nguyên tiến tới hôn nhân, sau đó có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên được xem là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống bà H cho rằng có phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, tính tình không hợp nhau, dẫn đên ly thân từ tháng 08 năm 2024 đến nay. Quá trình giải quyết vụ án, Toà án triệu tập hợp lệ ông K nhiều lần để tham gia phiên họp, phiên tòa nhưng ông K vắng mặt không lý do, không có văn bản trình bày ý kiến cho thấy ông K không có thiện chí hàn gắn quan hệ hôn nhân với bà H. Từ đó cho thấy, mâu thuẫn giữa bà H và ông K đã đến mức trầm trọng, hôn nhân không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, có căn cứ để Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà H đối với ông K.
[2.2] Về con chung: Không có nên không xem xét.
[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Bà H khai không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Nếu sau này phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ án khác.
[3] Từ những nhận định trên, xét yêu cầu của bà H cũng như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ chấp nhận.
[4] Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bà H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- Khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Các Điều 51, 56, 57 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Kiều H.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Kiều H được ly hôn với ông Nguyễn Anh K.
- Về con chung: Không có nên không xem xét, giải quyết.
- Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết. Nếu sau này phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ án khác
- Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Kiều H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), chuyển số tiền tạm ứng án phí bà H đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0004972 ngày 20/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang thành án phí. Bà H đã nộp xong án phí.
- Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết theo quy định.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
* Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hồng Thanh |
Bản án số 65/2025/HNGĐ-ST ngày 24/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 65/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
