|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10- NINH BÌNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số 65/2025/HNGĐ-ST Ngày 20-11-2025 V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn giữa chị T và N” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – NINH BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Ngọc Long.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phạm Thế Quang;
Ông Nguyễn Văn Bốn.
Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Thế Vinh - Thư ký viên Tòa án nhân dân khu vực 10 – Ninh Bình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 – Ninh Bình tham gia phiên toà: Bà Trịnh Thị Trinh - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 10 – Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 116/2025/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 10 năm 2025 về việc “Ly hôn, nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 11 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Phạm Thị T, sinh năm 1985; địa chỉ: Xóm T, xã G, tỉnh Ninh Bình; “vắng mặt”
Bị đơn: Anh Vũ Hồng N, sinh năm 1982; địa chỉ: Xóm T, xã G, tỉnh Ninh Bình “vắng mặt”
(Tại phiên toà chị T, anh N vắng mặt có đơn xin vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 06/10/2025, quá trình làm việc tại Tòa án nguyên đơn chị Phạm Thị T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Vũ Hồng N tự nguyện tìm hiểu và kết hôn, đã được Ủy ban nhân dân xã G, huyện G, tỉnh Nam Định nay là xã G, tỉnh Ninh Bình cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 30/09/2006. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc tại nhà bố mẹ đẻ anh N tại xóm T, xã G, tỉnh Ninh Bình. Hiện nay vợ chồng mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống. Nay chị xác định không còn tình cảm hạnh phúc đã tan vỡ nên nguyện vọng của chị xin được ly hôn anh N.
Về con chung: Vợ chồng có ba con chung là cháu Vũ Thị Thủy S ngày 25/7/2004, cháu Vũ Duy D, sinh ngày 07/12/2006 và cháu Vũ Tiến D1, sinh ngày 14/06/2012. Hiện cháu T1 và cháu D đã trưởng thành nên chị T không yêu cầu Toà án giải quyết. Tại đơn đề nghị của chị T, chị T xin nhường quyền nuôi cháu Vũ Tiến D1 cho anh N. Chị T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nghĩa vụ về tài sản: Vợ chồng không có tài sản chung, không cho ai vay nợ và cũng không nợ gì của ai nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai bị đơn anh Vũ Hồng N trình bày: Chị T trình bày về quan hệ hôn nhân và mẫu thuẫn vợ chồng là đúng. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc, sau đó phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, chị T có quan hệ với người đàn ông khác. Nay chị T làm đơn xin ly hôn anh hoàn toàn nhất trí.
Về con chung: Vợ chồng có 3 con chung là cháu Vũ Thị Thủy S ngày 25/7/2004, cháu Vũ Duy D, sinh ngày 07/12/2006 và cháu Vũ Tiến D1, sinh ngày 14/06/2012. Hiện cháu T1 và cháu D đã trưởng thành nên anh không yêu cầu Toà án giải quyết. Anh xin nhận nuôi cháu D1 và không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Vợ chồng không có tài sản chung nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Kết quả thu thập chứng cứ tại Ủy ban nhân dân xã G:
* Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị T đăng ký kết hôn với anh Vũ Hồng N vào ngày 30/9/2003 tại UBND xã G, huyện G, tỉnh Nam Định nay là xã G, tỉnh Ninh Bình trên cơ sở tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn. Vợ chồng nảy sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng về quan điểm sống. Nay chị T làm đơn xin ly hôn, anh N cũng đồng ý ly hôn để giải phóng cho nhau. Quan điểm của địa phương là đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật giải quyết ly hôn cho chị Phạm Thị T và anh Vũ Hồng N.
* Về con chung: Chị Phạm Thị T và anh Vũ Hồng N có 03 con chung: Cháu Vũ Thị T1, sinh ngày 25/7/2004; cháu Vũ Duy D, sinh ngày 07/12/2006; Vũ Tiến D1, sinh ngày 14/6/2012. Hiện cháu T1 và cháu D đã trưởng thành nên Toà án không xem xét giải quyết; khi ly hôn chị Phạm Thị T xin nhường quyền nuôi cháu D1 cho anh Vũ Hồng N và chị không cấp dưỡng nuôi con chung, anh Vũ Hồng N cũng xin nhận nuôi cháu D1 và không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con chung. Quan điểm của địa phương đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo đề nghị của các đương sự trên cơ sở quy định của pháp luật để đảm bảo quyền lợi cho các bên, cũng như đảm bảo quyền lợi tốt nhất về mọi mặt cho con chung; giao cháu Vũ Tiến D1 cho anh Vũ Hồng N chăm sóc nuôi dưỡng, chị T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản, công nợ: Chị Phạm Thị T và anh Vũ Hồng N không yêu cầu Toà án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 – Ninh Bình tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Về việc chấp hành pháp luật tố tụng, quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa tại phiên tòa đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Đối với các đương sự đã chấp hành đúng pháp luật tố tụng.
Về việc giải quyết vụ án, căn cứ vào các Điều 56, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử: Xử ly hôn giữa chị T và anh N; giao con chung là cháu Vũ Tiến D1, sinh ngày 14/6/2012 cho anh N nuôi dưỡng. Chị T không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung sau khi ly hôn mà không ai được cản trở.
Về án phí: Chị T phải nộp án phí ly hôn theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng: Các đương sự đã chấp hành theo quy định của pháp luật.
- Về hôn nhân: Chị T và anh N kết hôn hợp pháp. Chị T và anh N mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình lối sống không hoà hợp, bất đồng quan điểm, hai bên không có tiếng nói chung, nay chị T xin ly hôn anh N nhất trí. Xét thấy mẫu thuẫn giữa chị T và anh N là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử xử ly hôn giữa chị Phạm Thị T và anh Vũ Hồng N là phù hợp theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
- Về con chung: Chị T và anh N có 03 con chung là cháu Vũ Thị T1, sinh ngày 25/7/2004; cháu Vũ Duy D, sinh ngày 07/12/2006; Vũ Tiến D1, sinh ngày 14/6/2012. Hiện cháu T1 và cháu D đã trưởng thành nên Toà án không xem xét giải quyết. Trong đơn đề nghị chị T xin nhường quyền nuôi cháu Vũ Tiến D1 cho anh N chăm sóc nuôi dưỡng. Chị T không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Quan điểm của anh N xin nhận nuôi cháu D1 và không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con chung. Xét thấy, chị T và anh N không tranh chấp về nuôi con mà hai thống nhất là anh N nuôi cháu D1, ghi nhận sự tự nguyện của anh N không yêu cầu chị T phải cấp dưỡng nuôi con là phù hợp với thực tế và theo Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.
- Về tài sản, nghĩa vụ về tài sản: Do các đương sự xác nhận vợ chồng không có tài sản chung, không vay nợ ai và không cho ai vay nợ, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết là phù hợp.
- Về án phí: Chị Phạm Thị T phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Về hôn nhân: Xử ly hôn giữa chị Phạm Thị T và anh Vũ Hồng N.
- Về con chung: Giao con chung là cháu Vũ Tiến D1, sinh ngày 14/6/2012 cho anh Vũ Hồng N trực tiếp chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của anh N không yêu cầu chị T phải cấp dưỡng nuôi con. Chị T được quyền và nghĩa thăm nom con chung sau khi ly hôn mà không ai được cản trở.
- Về án phí: Chị Phạm Thị T phải nộp án phí ly hôn là 300.000đ được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ đã nộp theo biên lai thu số 0002069 ngày 22/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình.
- Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Phạm Ngọc Long |
Bản án số 65/2025/HNGĐ-ST ngày 20/11/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10- NINH BÌNH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 65/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/11/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10- NINH BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
