|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 65/2025/HNGĐ-ST Ngày: 20/6/2025 V/v: “Tranh chấp về ly hôn, nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC, TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Văn Hơn
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Bùi Nhiên
- Ông Nguyễn Thanh Sơn
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Ngọc - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.
Ngày 20 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 208/2025/TLST-HNGĐ ngày 21/5/2025, về việc: “Tranh chấp về ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 44/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 27/5/2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Bích D – Sinh năm 1992
Địa chỉ: Thôn E, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận
Bị đơn: Ông Nguyễn Phụng H – Sinh năm 1995
Địa chỉ: Khu phố P, thị trấn P, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
Các đương sự có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 12 tháng 5 năm 2025, cũng như các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Thị Bích D trình bày: Bà và ông H tự nguyện tìm hiểu chung sống với nhau từ năm 2015, đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn P, huyện H ngày 16/5/2016, theo giấy chứng nhận kết hôn số 62/2016 ngày 16/5/2016 của UBND thị trấn P. Sau khi cưới nhau về chung sống hạnh phúc được một thời gian ngắn, về sau phát sinh mâu thuẫn do tính cách không hợp nhau, không cùng quan điểm sống. Ông H thường xuyên nhậu hẹt xay xỉn và có mối quan hệ ngoài luồng nên thi thoảng mới về nhà, không chăm lo đến cuốc sống gia đình dẫn tới hai vợ chồng hay cải vã qua lại với nhau. Bà đã khuyên răn ông H nhiều lần nhưng ông H vẫn không thay đổi. Khoảng hơn 03 tháng nay thì hai vợ chồng sống ly thân. Từ khi ly thân không quan tâm gì tới nhau, mạnh ai nấy sống, không còn tha thiết với cuộc sống hôn nhân của mình. Nay bà xác định tình cảm vợ chồng không còn nên bà yêu cầu được ly hôn với ông H.
Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 01 người con chung tên Nguyễn
1
Phụng H1, sinh ngày 04/9/2016. Sau khi ly hôn, bà có nguyện vọng được nuôi dưỡng cháu H1. Về cấp dưỡng bà yêu cầu ông H cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho bà 2.000.000 đồng/tháng cho tới khi con chung đủ tuổi thành niên và có khả năng lao động hoặc có tài sản riêng để tự nuôi sống bản thân.
Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết
*/Bị đơn ông Nguyễn Phụng H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Lời trình bày của bà D về quan hệ hôn nhân là đúng, ông và bà D tự nguyện tìm hiểu chung sống với nhau từ năm 2015, làm thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn P, huyện H ngày 16/5/2016. Sau khi cưới nhau về chung sống hạnh phúc được được một thời gian. Ông thừa nhận ông hay nhậu nhẹt nhưng ông không có mối quan hệ nào bên ngoài, do ông làm nghề lái xe khách nên thường xuyên vắng nhà, vợ chồng cũng có nhiều mâu thuẫn hay chửi bới nhau chứ ông chưa đánh đập bà D. Hai vợ chồng ly thân hơn 03 tháng nay, từ khi ly thân thì ông nhiều lần năn nỉ bà D quay về nhưng bà D không về. Ông vẫn còn tình cảm với bà D nên không đồng ý ly hôn với bà D, đề nghị bà D quay về chung sống để lo cho con cái.
Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 01 người con chung tên Nguyễn Phụng H1, sinh ngày 04/9/2016. Từ khi ly thân thì cháu H1 ở với bà D. Nếu Tòa án xét thấy vợ chồng đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được và giải quyết cho ly hôn thì ông đồng ý giao con cho bà D trực tiếp nuôi và cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho bà D 2.000.000 đồng/tháng cho tới khi con chung đủ tuổi thành niên và có khả năng lao động hoặc có tài sản riêng để tự nuôi sống bản thân.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.
Trong thời hạn chuẩn bị xét xử vụ án, Tòa án đã tiến hành hòa giải để các đương sự thỏa thuận với nhau nhưng ông H không ký biên bản và tự động bỏ về, bà D có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải và đề nghị Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Bích D có đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết ly hôn, nuôi con với bị đơn ông Nguyễn Phụng H. Đây là tranh chấp về ly hôn, nuôi con. Bị đơn có địa chỉ tại khu phố P, thị trấn P, huyện H, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.
[2] Đối với việc tham gia phiên tòa của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc: Trong vụ án này, Tòa án không phải thu thập chứng cứ nên theo quy định tại Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự, thì vụ án không cần phải có Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
[3] Về nội dung:
2
[3.a] Về hôn nhân: Xét yêu cầu ly hôn của bà D, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bà D và ông H tự nguyện tìm hiểu, yêu thương nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn P, huyện H, tỉnh Bình Thuận ngày 16/5/2016, theo giấy chứng nhận kết hôn số 62/2016 của UBND thị trấn P, huyện H nên đây là hôn nhân hợp pháp. Trong cuộc sống, do tính cách không hợp nhau, ông D hay nhậu nhẹt không chăm lo tới gia đình dẫn tới vợ chồng thường xuyên cãi vã qua lại, mâu thuẫn xảy ra liên tục trong thời gian dài, cuộc sống luôn căng thẳng nặng nề. Hai vợ chồng sống ly thân hơn 03 tháng nay, từ đó đến nay vợ chồng không quan tâm gì đến nhau. Từ khi ly thân đến nay, vợ chồng không ai quan tâm tới ai, mạnh ai nấy sống, không còn tha thiết gì với hôn nhân của mình. Quá trình giải quyết vụ án, ông H thừa nhận trong cuộc sống hôn nhân có nhiều mâu thuẫn nhưng ông còn tình cảm với bà D nên không đồng ý ly hôn. Tại phiên tòa bà D kiên quyết yêu cầu ly hôn. Xét bà D và ông H đều thừa nhận trong cuộc sống hôn nhân có nhiều mâu thuẫn do không hợp tính nhau, vợ chồng đã ly thân không ai quan tâm tới ai, điều này chứng tỏ tình cảm vợ chồng đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, việc bà D xin ly hôn với ông H là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3.b] Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Phụng H1, sinh ngày 04/9/2016. Tại phiên Tòa bà D có nguyện vọng trực tiếp nuôi cháu H1. Xét, từ khi ly thân đến nay cháu H1 ở với bà D, do bà D trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, ông H cũng đồng ý giao cháu H1 cho bà D trực tiếp nuôi dưỡng, tại bản khai của cháu H1 mong muốn được ở với bà D và để tránh xáo trộn cuộc sống của con chung, nên giao cháu H1 cho D trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.
Về cấp dưỡng nuôi con: Bà D yêu cầu ông H cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho bà 2.000.000 đồng cho tới khi con chung đủ tuổi thành niên và có khả năng lao động hoặc có tài sản riêng để tự nuôi sống bản thân. Xét mức yêu cầu cấp dưỡng của bà D là phù hợp với mức chi phí nuôi dưỡng tại địa phương và phù hợp với khả năng của ông H và được ông hảo đồng ý nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Ông H có quyền thăm nom con chung không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con và cấp dưỡng nuôi con khi cần thiết.
[3.c] Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
[4] Về án phí: Bà D phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, ông H phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con theo khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điểm a khoản 1 Điều 35, Điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 55; Điều
3
56, Điều 57, Điều 58, Điều 59 Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 110, Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Bích D
- - Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Bích D được ly hôn với ông Nguyễn Phụng H
- - Về con chung: Giao cháu Nguyễn Phụng H1, sinh ngày 04/9/2016 cho bà D trực tiếp nuôi dưỡng.
Ông H cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho bà D mức cấp dưỡng 2.000.000 đồng/tháng cho tới khi con chung đủ tuổi thành niên và có khả năng lao động hoặc có tài sản riêng để tự nuôi sống bản thân.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Ông H có quyền thăm nom con không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chung, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con khi cần thiết.
- - Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí: Bà Nguyễn Thị Bích D phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0003328 ngày 21/5/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận, Bà D1 đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm. Ông Nguyễn Phụng H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (20/6/2025).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Văn Hơn |
4
5
Bản án số 65/2025/HNGĐ-ST ngày 20/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC, TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp về ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 65/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC, TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
