|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
|
Bản án số: 65/2025/HNGĐ-ST Ngày: 19 - 6 - 2025 V/v Tranh chấp hôn nhân và gia đình |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hoàn.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Đức Minh;
Ông Trần Anh Dũng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Tạ Trung Anh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Hải Bằng - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 06 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 39/2025/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 3 năm 2025 về việc “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 91/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1983.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn N, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định.
Địa chỉ hiện nay: Số nhà C, ngõ A Khu A, Phường H, đường T, thành phố Đ, Đài Loan.
Số định danh cá nhân: 036183012215.
Số hộ chiếu: C9570624 do Cục Q1 cấp ngày 10/3/2021.
Bị đơn: Anh Nguyễn Văn B, sinh năm 1984.
Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện K, tỉnh Thái Bình.
Số định danh cá nhân: 034084024484.
(Chị T có đơn xin xét xử vắng mặt, anh B có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Tại đơn khởi kiện đề ngày 27/8/2024 và Bản tự khai của nguyên đơn chị Nguyễn Thị T yêu cầu giải quyết về quan hệ hôn nhân với anh Nguyễn Văn B và trình bày như sau:
Chị và anh Nguyễn Văn B kết hôn trên cơ sở tự nguyện, được tự do tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V (nay là Ủy ban nhân dân xã T), huyện K, tỉnh Thái Bình ngày 09/9/2005 theo Giấy chứng nhận kết hôn số: 43/2005, quyển số 01/2005. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc, tuy nhiên từ đầu năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân của mâu thuẫn là do khác biệt về tính cách, không thể hòa hợp và không có tiếng nói chung trong cuộc sống. Do điều kiện kinh tế khó khăn nên khoảng giữa năm 2021, chị đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan. Thời gian đầu lúc mới sang Đài Loan, chị và anh B vẫn liên lạc, nói chuyện nhưng từ cuối năm 2021, vợ chồng phát sinh thêm nhiều mâu thuẫn trầm trọng nên kể từ đó ít liên lạc, hỏi han, quan tâm nhau, ai có cuộc sống riêng của người đó. Mặc dù trong thời gian mâu thuẫn, chị và anh B đã chủ động nói chuyện để hàn gắn tình cảm, hai bên gia đình cũng đã cố gắng khuyên bảo nhưng không có kết quả. Vì vậy chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Nguyễn Văn B.
Về con chung: Chị và anh B có 03 người con chung là Nguyễn Mai Trúc Q, sinh ngày 28/01/2006; Nguyễn Hoàng Gia B1, sinh ngày 05/01/2012 và Nguyễn Hoàng Khôi N, sinh ngày 10/01/2016. Hiện nay, con Trúc Q đã trưởng thành, tự lập về mọi mặt, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết, con Gia B1 đang ở với ông ngoại là Nguyễn Văn C, sinh năm 1950 tại địa chỉ: Xóm H N, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định, được ông bà ngoại nuôi dưỡng và phát triển tốt cả về thể chất lẫn tinh thần. Ly hôn, chị đề nghị được nuôi 02 con chung K và Gia B1 nhưng tạm thời giao cho ông ngoại trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc cho đến khi chị về nước. Về mức cấp dưỡng chị và anh B tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị và anh B tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Chị đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt chị.
* Bị đơn - anh Nguyễn Văn B, sinh năm 1982, địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện K, tỉnh Thái Bình trình bày:
Anh và chị T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình ngày 08/9/2005. Sau khi kết hôn, vợ chồng có thời gian chung sống hạnh phúc. Năm 2021, do kinh tế khó khăn, chị T đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan, anh ở nhà chăm sóc 03 người con. Năm đầu tiên chị T có gửi tiền về cho anh nuôi con nhưng từ năm thứ hai trở đi chị không gửi tiền về cho anh và cũng không về Việt Nam với anh và các con. Một mình anh phải đi làm nuôi con, anh còn được biết chị T có mối quan hệ ngoài luồng với người đàn ông khác tại Đài Loan, vì vậy mà từ năm 2022 đến nay, vợ chồng không còn quan tâm tới nhau, mỗi người một cuộc sống riêng. Nay, chị T khởi kiện xin ly hôn anh, anh đồng ý ly hôn mà không xin hàn gắn tình cảm vợ chồng.
Về con chung: Anh và chị T có 03 con chung là Nguyễn Mai Trúc Q, sinh ngày 28/01/2006; Nguyễn Hoàng Gia B1, sinh ngày 05/01/2012 và Nguyễn Hoàng Khôi N, sinh ngày 10/01/2016. Hiện nay, con Trúc Q đã trưởng thành, tự lập về mọi mặt, anh không yêu cầu Tòa án giải quyết, con Gia B1 đang ở với ông ngoại là Nguyễn Văn C, sinh năm 1950 tại địa chỉ: Xóm H N, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định còn con Khôi N đang ở cùng với anh. Ly hôn, anh đề nghị Tòa án giao 02 con chung là Khôi N và Gia B1 cho anh là người trực tiếp nuôi dưỡng. Anh không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1950, địa chỉ: Xóm H, thôn N, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định là bố đẻ của chị Nguyễn Thị T trình bày:
Chị T và anh B kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình như chị T và anh B trình bày là đúng. Sau khi kết hôn, đến giữa năm 2021, chị T đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan nên hai vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân của mâu thuẫn cụ thể như thế nào thì ông không nắm được, gia đình cũng đã khuyên bảo nhiều lần nhưng không được. Nay chị T làm đơn xin ly hôn anh B, ông đề nghị Tòa án căn cứ vào các quy định của pháp luật để giải quyết.
Chị T và anh B có 03 con chung như chị T khai, chị T có nguyện vọng muốn được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc 02 con chung là Gia B1 và Khôi N nhưng tạm giao cho ông trong thời gian chị xuất khẩu lao động tại nước ngoài đến khi trở về Việt Nam, ông đồng ý với quan điểm của chị T vì từ trước tới nay, các cháu luôn ở với ông, luôn được vợ chồng ông yêu thương, chăm sóc và giáo dục, có môi trường tốt nhất cho sự phát triển của hai cháu. Ông cũng đề nghị Tòa án xem xét đến nguyện vọng xin ở với ai của các cháu. Nếu được Tòa án tạm giao nuôi con chung của chị T và anh B, ông không đề nghị chị T phải thanh toán bất kỳ chi phí hay công sức gì.
Về tài sản chung và nợ chung của chị T và anh B, ông không nắm được nên không thể cung cấp cho Tòa án.
* Tại phiên toà, anh B trình bày trước ngày mở phiên toà chị T đã gọi điện về cho anh thoả thuận nếu ly hôn thì mỗi người sẽ nuôi 01 con chung, cụ thể anh B nuôi con trai Khôi Nguyên còn chị T nuôi con gái Gia B1, hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau. Con Trúc Q đã trưởng thành, tự lập được về kinh tế nên không đặt ra việc giao cho ai nuôi dưỡng.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Thẩm phán và Hội đồng xét xử từ khi thụ lý đến khi xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng các quy định về quyền và nghĩa vụ của mình.
Về việc giải quyết vụ án: Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị áp dụng Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình, xử cho chị Nguyễn Thị T ly hôn anh Nguyễn Văn B. Về quan hệ con chung: Đề nghị áp dụng Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình, xử giao con chung Nguyễn Hoàng Khôi N, sinh ngày 10/01/2016 cho anh B trực tiếp nuôi dưỡng; giao con chung Nguyễn Hoàng Gia B1, sinh ngày 05/01/2012 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, việc cấp dưỡng nuôi con các đương sự không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết. Chấp nhận việc chị T ủy quyền cho bố đẻ là ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1950, địa chỉ: Xóm H N, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định chăm sóc, nuôi dưỡng con Gia Bảo đến khi chị T về Việt Nam. Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra giải quyết. Chị T phải chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, cũng như thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Sau khi Tòa án tiến hành thụ lý vụ án, chị T đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của nguyên đơn như cung cấp bản tự khai, cung cấp các chứng cứ và có đơn đề nghị Toà án không hòa giải, có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn - anh Nguyễn Văn B đã nhận được Thông báo về việc thụ lý vụ án, cung cấp bản tự khai cho Tòa án và có mặt tại phiên toà. Chị T đề nghị Toà án giải quyết, xét xử vắng mặt, căn cứ vào khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị T.
[2] Xét yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn:
[2.1] Quan hệ hôn nhân của chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Văn B được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V (nay là Ủy ban nhân dân xã T), huyện K, tỉnh Thái Bình vào ngày 09/09/2005 là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng anh B, chị T chung sống hạnh phúc một thời gian và đã có 03 con chung rồi mới phát sinh mâu thuẫn vào năm 2021, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã làm mất đi hạnh phúc vợ chồng. Sau đó chị T đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan, giữa vợ chồng ban đầu còn hỏi han, quan tâm đến nhau, anh B khai năm đầu ở Đài Loan chị T vẫn gửi tiền cho anh nuôi con nhưng một năm sau chị T không gửi tiền về và cũng không về thăm anh. Giữa vợ chồng sau đó lại phát sinh mâu thuẫn, cãi vã. Điều đó thể hiện mâu thuẫn vợ chồng giữa chị T và anh B đã trở nên trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, chị T mong muốn được ly hôn anh B, anh B cũng nhất trí ly hôn. Do chị T xin vắng mặt nên Toà án không thể lập biên bản ghi nhận ý kiến các đương sự, vì vậy cần chấp nhận yêu cầu của chị T, xử cho chị T ly hôn anh B là phù hợp với quy định tại Điều 39 Bộ luật Dân sự; Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
[2.2] Về quan hệ con chung: Vợ chồng chị T, anh B có 03 con chung là Nguyễn Mai Trúc Q, sinh ngày 28/01/2006; Nguyễn Hoàng Gia B1, sinh ngày 05/01/2012 và Nguyễn Hoàng Khôi N, sinh ngày 10/01/2016. Hiện nay, con Trúc Q đã trưởng thành, tự lập về mọi mặt nên không đặt ra giải quyết việc nuôi con Q. Đối với con Gia B1 đang ở với bố đẻ chị T là ông là Nguyễn Văn C, sinh năm 1950, địa chỉ: Xóm H N, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định còn con Khôi N đang ở cùng với anh B. Ban đầu chị T và anh B đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung là con Khôi Nguyên và Gia B1, không ai có yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nhưng tại phiên toà anh B khai đã thoả thuận được với chị T là mỗi người nuôi một con. Xét thực tế, con Khôi N là con trai, đang ở cùng với anh B, có nguyện vọng được ở với bố; con Gia B1 là con gái, đang ở cùng với ông ngoại, có nguyện vọng được ở với mẹ. Ông Nguyễn Văn C (bố đẻ chị T) đồng ý chăm sóc, nuôi dưỡng con Gia Bảo giúp chị T trong thời gian chị T đi lao động ở nước ngoài. Để đảm bảo ổn định cuộc sống và đảm bảo quyền lợi mọi mặt cho con chung, xem xét đến nguyện vọng của con chung, Hội đồng xét xử nhận thấy cần giao con Khôi Nguyên cho anh B trực tiếp nuôi dưỡng, giao con Gia B1 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Chị T và anh B đều đề nghị không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết về vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và tiền cấp dưỡng nuôi con chung được giải quyết khi đương sự có đơn yêu cầu.
[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: chị T và anh Bằng không yêu cầu Tòa án giải quyết vì vậy, Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết trong vụ án này. Các đương sự có thể khởi kiện vụ án phân chia tài sản chung khi cần thiết.
[2.4] Về án phí và quyền kháng cáo: Chị T phải chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm; các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 điểm b Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 238 Điều 271; Điều 273; Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý án phí, lệ phí Tòa án.
[1] Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn anh Nguyễn Văn B.
[2] Về quan hệ con chung: Giao con chung Nguyễn Hoàng Khôi N, sinh ngày 10/01/2016 cho anh Nguyễn Văn B trực tiếp nuôi dưỡng, giao con chung Nguyễn Hoàng Gia B1, sinh ngày 05/01/2012 cho chị Nguyễn Thị T trực tiếp nuôi dưỡng. Chấp nhận việc chị T ủy quyền cho bố đẻ là ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1950, địa chỉ: Xóm H N, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định chăm sóc, nuôi dưỡng con Gia Bảo đến khi chị T về Việt Nam.
Vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra giải quyết.
Chị T, anh B có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung, yêu cầu cấp dưỡng nuôi con khi cần thiết.
[3] Về quan hệ tài sản: Các đương sự không yêu cầu, không đặt ra giải quyết.
[4] Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Chuyển số tiền 300.000 đồng chị T đã nộp tạm ứng án phí theo Biên lai số 0000467 ngày 18 tháng 3 năm 2025 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thái Bình sang thi hành án phí.
[5] Về quyền kháng cáo: Anh Nguyễn Văn B có quyền kháng cáo bản án trong thời gian 15 ngày kể từ ngày tuyên án; chị Nguyễn Thị T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Thúy Hoàn |
Bản án số 65/2025/HNGĐ-ST ngày 19/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 65/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị T - Nguyễn Văn B
