TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA BÌNH TỈNH BẠC LIÊU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 65/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 16 - 6 - 2025
V/v Tranh chấp hôn nhân và gia đình
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA BÌNH – TỈNH BẠC LIÊU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Chí Tâm
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Liêu Tài Ngoánh
- Ông Võ Tấn Phước
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Dung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên toà: Bà Trịnh Thị Mỹ Tiên - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 143/2024/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 5 năm 2025 về việc xin ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38a/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Ông Lý T, sinh năm 1978.
- Địa chỉ: Ấp V, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu.
- - Bị đơn: Bà Thị H, sinh năm 1974.
- Địa chỉ: Ấp V, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu.
- (ông T và bà H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện, biên bản lấy lời khai ông Lý T trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Ông Lý T và bà Thị H tự nguyện chung sống vợ chồng vào năm 2003 nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Vợ chồng ông chung sống hạnh phúc, nhưng thời gian gần đây thì phát sinh mâu thuẫn, không hàn gắn được tình cảm vợ chồng, dẫn đến ông và bà Thị H sống ly thân từ 05 tháng nay. Nay xét thấy không thể tiếp tục chung sống, nên ông Lý T yêu cầu xin ly hôn bà Thị H.
- Về nuôi con chung: Ông Lý T và bà Thị H có 03 con chung là cháu Lý Thị Mai T1, sinh ngày 06/10/2004, Lý Hoàng T2, sinh ngày 15/10/2009 và cháu Lý Tường H1, sinh ngày 03/09/2016 hiện bà H trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Riêng Lý Thị Mai T1 đã trưởng thành sống tự lập nên không yêu cầu nuôi dưỡng.
- Về tài sản chung: Ông Lý T và bà Thị H tự thoả thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Ông Lý T và bà Thị H xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Ngoài ra không yêu cầu gì khác.
* Bị đơn bà Thị H trình bày:
- Về hôn nhân: Bà H và ông Lý Thanh T3 nguyên chung sống vợ chồng vào năm 2003. Vợ chồng có xảy ra bất đồng mâu thuẫn đúng lời trình này của ông Lý T, nay là bà H đồng ý ly hôn. Bà H và ông T không có đăng ký kết hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình.
- Về con chung: Bà H và ông Lý T có 03 con chung là cháu Lý Thị Mai T1, sinh ngày 06/10/2004, Lý Hoàng T2, sinh ngày 15/10/2009 và cháu Lý Tường H1, sinh ngày 03/09/2016 hiện bà H đang trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Riêng Lý Thị Mai T1, sinh ngày 06/10/2004 đã trưởng thành sống tự lập không yêu cầu nuôi dưỡng.
Bà H và ông T thoả thuận giao cháu Lý Hoàng T2, sinh ngày 15/10/2009 và cháu Lý Tường H1, sinh ngày 03/09/2016 cho bà H nuôi dưỡng, bà H không có yêu cầu ông T đóng góp cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Bà H và ông T tự thoả thuận, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung : Bà H và ông T xác định không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa: Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án ông Lý T vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bà Thị H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Đại diện Viên kiểm sát huyện H phát biểu quan điểm:
- Ý kiến về việc giải quyết vụ án. Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu.
- Áp dụng khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn ông Lý T và bà Thị H vắng mặt tại phiên tòa nhưng ông Lý T và bà THị H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Đề nghị Hội đồng xét xử vắng mặt ông Lý T và bà Thị H.
- Áp dụng khoản 1 Điều 14; Khoản 2 Điều 53 Luật nhân gia đình năm 2014, tuyên xử Không công nhận ông Lý T và bà Thị H là vợ chồng.
- Về con chung: Ông Lý T và bà Thị H có 03 con chung là cháu Lý Thị Mai T1, sinh ngày 06/10/2004, Lý Hoàng T2, sinh ngày 15/10/2009 và cháu Lý Tường H1, sinh ngày 03/09/2016 hiện bà H đang trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Riêng Lý Thị Mai T1, sinh ngày 06/10/2004 đã trưởng thành sống tự lập không yêu cầu nuôi dưỡng.
- Về tài sản chung: Bà H và ông T tự thoả thuận, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung : Bà H và ông T xác định không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Áp dụng khoản 4 Điều 147, Bộ luật Tố tụng Dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án. Ông Lý T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Ông Lý T có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Hòa Bình giải quyết về việc ly hôn; Tuy nhiên, giữa ông Lý T và bà Thị H chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2003 đến nay vẫn không đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật; Do đó, yêu cầu ly hôn của nguyên đơn pháp luật không công nhận. Đối với yêu cầu khởi kiện của ông Lý T. Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp hôn nhân giữa ông Lý T và bà Thị H là “Tranh chấp khác về hôn nhân và gia đình” được quy định tại khoản 8 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
[2] Về thẩm quyền giải quyết: Ông Lý T và bà Thị H có nơi đăng ký thường trú tại ấp V, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu. Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu.
[3] Về sự vắng mặt của các đương sự: Nguyên đơn ông Lý T và bị đơn bà Thị H vắng mặt tại phiên tòa, ông T và bà H đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Theo quy định tại khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
[4] Về nội dung tranh chấp:
4.1 Về hôn nhân: Căn cứ xác nhận tình trạng hôn nhân giữa ông Lý T và bà Thị H chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2003 cho đến nay vẫn không tiến hành làm thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét mâu thuẫn trong hôn nhân, quy định tại khoản 1 Điều 14; khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 Hội đồng xét xử tuyên bố không công nhận ông Lý T và bà Thị H là vợ chồng.
4.2 Về con chung: ông Lý T và bà Thị H có 03 con chung là cháu Lý Thị Mai T1, sinh ngày 06/10/2004, Lý Hoàng T2, sinh ngày 15/10/2009 và cháu Lý Tường H1, sinh ngày 03/09/2016. Riêng Lý Thị Mai T1, sinh ngày 06/10/2004 đã trưởng thành sống tự lập, không yêu cầu nuôi dưỡng. Ông T và bà H thoả thuận giao cháu T2 và cháu H1 cho bà H nuôi dưỡng, ông T không phải cấp dưỡng nuôi con do bà H không có yêu cầu. Căn cứ Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân gia đình năm 2014. Hội đồng xét xử ghi nhận sự thoả thuận việc giao cháu T2 và H1 cho bà H chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Ông Lý T không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
4.3 Về tài sản chung: Ông Lý T và bà Thị H tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án xem xét giải quyết.
4.3 Về nợ chung: Ông Lý T và bà Thị H không có, không yêu cầu Toà án xem xét giải quyết.
[5] Về án phí sơ thẩm:
Áp dụng khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng Dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm,thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án. Ông Lý T là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm
[6] Về ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên: Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ nên cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
- - Khoản 1 Điều 14; Khoản 2 Điều 53, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật nhân gia đình năm 2014.
- - Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
Tuyên Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận ông Lý T và bà Thị H là vợ chồng.
- Về con chung: Giao cháu Lý Hoàng T2, sinh ngày 15/10/2009 và cháu Lý Tường H1, sinh ngày 03/09/2016 cho bà Thị H chăm sóc nuôi dưỡng, ông Lý T không phải đóng góp nuôi con do bà Thị H không có yêu cầu.
- Sau khi ly hôn, ông Lý T không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về tài sản chung: Ông Lý T và bà Thị H tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án xem xét giải quyết.
- Về nợ chung: Ông Lý T và bà Thị H không có, không yêu cầu Toà án xem xét giải quyết.
- Về án phí sơ thẩm: Ông Lý T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng. Bà Thị H không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Ông Lý T đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lại số số 0006123 ngày 09/5/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu. Nay chuyển thu án phí.
Án xử sơ thẩm công khai các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Chí Tâm |
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Liêu tài Ngoánh Phước | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Tấn Phan Chí Tâm |
Bản án số 65/2025/HNGĐ-ST ngày 16/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA BÌNH TỈNH BẠC LIÊU về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 65/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA BÌNH TỈNH BẠC LIÊU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lý Thanh - Thị Hạnh
