|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 65/2025/HNGĐ-ST Ngày 06/6/2025 “V/v Tranh chấp hôn nhân và gia đình” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Tuấn Anh
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Bùi Thị Hảo
Bà Nguyễn Thị Phẩm
Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Trung Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 35/2025/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 3 năm 2025 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 60/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 5 năm 2025 và quyết định hoãn phiên tòa số: 01/2025/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 5 năm 2025 giữa:
Nguyên đơn: Chị Đào Thị T, sinh năm 1982.
Địa chỉ: Khu A, xã K, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.
Bị đơn: Anh Đinh Tiến T1, sinh năm 1974.
Nơi ĐKHKTT: Khu A, xã K, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.
Hiện đang ở nước ngoài (Đài Loan).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Đinh Tùy B, sinh năm 1953.
Địa chỉ: Khu A, xã K, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.
(Chị T, ông B đều vắng mặt, đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Anh T1 vắng mặt lần thứ hai).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các lời khai tiếp theo, nguyên đơn chị Đào Thị T trình bày: Chị và anh Đinh Tiến T1 kết hôn tự nguyện có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, thành phố V, tỉnh Phú Thọ ngày 19/7/2010. Sau khi kết hôn tình cảm vợ chồng hòa thuận hạnh phúc đến năm 2019 thì vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng không hợp nhau, không có tiếng nói chung vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng căng thẳng. Hai vợ chồng đã sống ly thân nhiều năm nay. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không còn hòa hợp nữa nên đề nghị ly hôn anh T1 để ổn định cuộc sống.
Về con chung: Chị T xác định vợ chồng có hai con chung là cháu Đinh Trọng Đ, sinh ngày 17/3/2011 và cháu Đinh Trọng V, sinh ngày 30/4/2013. Chị đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung, chị không yêu cầu anh T1 phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị.
Về tài sản chung, công nợ, công sức đóng góp của vợ chồng: Chị T không đề nghị Tòa án giải quyết.
Phía bị đơn: Anh Đinh Tiến T1 hiện đang ở nước ngoài thể hiện tại công văn số: 219/QLXNC-Đ1 ngày 10/3/2025 của Phòng Q Công an tỉnh P xác định anh T1 xuất cảnh ngày 12/8/2023 qua cửa khẩu N, hiện chưa có thông tin nhập cảnh. Do chị T không biết địa chỉ của anh T1 ở đâu tại nước ngoài nên ông Đinh Tùy B và bà Nguyễn Thị V1 là bố, mẹ đẻ của anh T1 đã tự khai tại Tòa án như sau: Hiện tại anh T1 đang ở Đài Loan địa chỉ cụ thể ông không biết. Nhưng ông và anh T1 vẫn thường xuyên liên lạc qua Zalo hoặc Facebook, ông B đã nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án gửi cho anh T1 và yêu cầu ông cung cấp địa chỉ của anh T1 ở nước ngoài, ông đã thông báo cho anh T1 biết xong anh T1 không cung cấp địa chỉ cho ông để cung cấp cho Tòa án. Thông qua điện thoại ông đã trao đổi nội dung chị T xin ly hôn anh T1, anh T1 có quan điểm không muốn ly hôn với chị T, khi nào anh T1 về nước anh sẽ khuyên bảo để vợ chồng đoàn tụ. Bản thân ông cũng thấy chị T sau khi đi N về có thái độ khác với anh T1 nhưng ông đã khuyên bảo hai vợ chồng.
Về con chung: Ông B xác định vợ chồng chị T và anh T1 có hai con chung là cháu Đinh Trọng Đ, sinh ngày 17/3/2011 và cháu Đinh Trọng V, sinh ngày 30/4/2013. Anh T1 không nhất trí ly hôn nên không có quan điểm.
Tại Tòa án, các cháu Đinh Trọng Đ và cháu Đinh Trọng V có nguyện vọng ở với mẹ khi bố mẹ ly hôn.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ phát biểu ý kiến về những nội dung sau:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án theo đúng quy định trình tự của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung đề nghị hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS); Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82 Luật hôn nhân và gia đình (HN&GĐ); Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH1430/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:
- + Về quan hệ hôn nhân: Chị Đào Thị T được ly hôn với anh Đinh Tiến T1.
+ Về con chung: Giao cháu Đinh Trọng Đ, sinh ngày 17/3/2011 và cháu Đinh Trọng V, sinh ngày 30/4/2013 cho chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi cháu cháu Đ và cháu V trưởng thành. Anh T1 được quyền thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở.
- + Về cấp dưỡng nuôi con: Chị T không yêu cầu anh T1 phải cấp dưỡng nuôi con chung, nên không đặt ra giải quyết.
- + Về tài sản chung, công nợ chung: Không đề nghị Tòa án giải quyết.
- + Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị T là nguyên đơn nên phải chịu 300.000đ án phí ly hôn (xác nhận đã nộp).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Bị đơn anh Đinh Tiến T1 đăng ký hộ khẩu thường trú tại xã K, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Theo Công văn số: 219/QLXNC-Đ1 ngày 10/3/2025 của Phòng Q Công an tỉnh P xác định anh T1 xuất cảnh ngày 12/8/2023 qua cửa khẩu N, hiện chưa có thông tin nhập cảnh. Căn cứ khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37; điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS, Điều 123 của Luật HN&GĐ. Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.
Trong vụ án này anh T1 không có mặt ở Việt Nam nên Tòa án không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 2 Điều 207 của BLTTDS. Do vậy Tòa án tiến hành đưa vụ án ra xét xử là đúng với quy định của pháp luật.
Chị T đề nghị xin ly hôn với anh T1 và chỉ cung cấp được địa chỉ nơi cư trú cuối cùng ở Việt Nam của anh T1 mà không cung cấp được địa chỉ anh T1 ở chỗ nào tại nước ngoài. Tòa án đã gửi các văn bản tố tụng thông qua bố đẻ của anh T1 là ông Đinh Tùy B. Ông B đã cam kết thông báo cho anh T1 biết, ông B và gia đình không biết địa chỉ cụ thể của anh T1 ở đâu tại nước ngoài, bản thân anh T1 không cung cấp địa chỉ mặc dù đã được ông B thông báo, trường hợp này được coi là bị đơn cố tình giấu địa chỉ. Căn cứ Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về việc giải quyết vụ án ly hôn có bị đơn là người Việt Nam ở nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ, Tòa án giải quyết vụ án theo thủ tục chung. Tại phiên tòa chị Đào Thị T, ông Đinh Tùy B vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Do vậy, căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 của BLTTDS Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt tất cả các đương sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Đào Thị T và anh Đinh Tiến T1 kết hôn tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 19/7/2010 tại Ủy ban nhân dân xã K, thành phố V, tỉnh Phú Thọ, đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, theo chị T trình bày giữa chị T và anh T1 có xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân chủ yếu là quan điểm sống không hợp nhau, hai vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi nhau. Chị T xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng nhiều năm nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T1. Mặc dù anh T1 không có lời khai xong thông qua ông B là bố của anh T1 cung cấp quan điểm của anh T1 không nhất trí ly hôn với chị T, khi nào anh T1 về sẽ khuyên bảo để hai vợ chồng đoàn tụ.
[2.2] Xét thấy: Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ cho thấy chị T và anh T1 là vợ chồng nhưng không liên lạc và không biết địa chỉ của nhau, hai vợ chồng đã sống ly thân nhiều năm nay, theo đó cho thấy anh chị đã không còn quan tâm, trách nhiệm gì với nhau theo nghĩa vợ chồng. Do vậy, có căn cứ để xác định tình cảm vợ chồng giữa chị T và anh T1 đã thực sự mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên xử cho chị T được ly hôn anh T1 là phù hợp với khoản 1 Điều 56 Luật HN&GĐ.
[2.3] Về con chung: Chị T và anh T1 có hai con chung là cháu Đinh Trọng Đ, sinh ngày 17/3/2011 và cháu Đinh Trọng V, sinh ngày 30/4/2013. Chị T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung, chị T không yêu cầu anh T1 phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng.
Xét thấy: Nguyện vọng được nuôi con chung là nguyện vọng chính đáng của người mẹ nên cần xem xét nguyện vọng phù hợp với quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử thấy rằng việc giao con chung cho ai nuôi cần đảm bảo cuộc sống mọi mặt cho các cháu. Trên thực tế anh T1 đang ở nước ngoài không ở Việt Nam không thể trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng các cháu. Các cháu Đinh Trọng Đ và Đinh Trọng V hiện đang do chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Tại tòa án các cháu Đ và V cũng có nguyện vọng được ở với mẹ khi bố mẹ ly hôn. Vì vậy, để các cháu có điều kiện sống tốt nhất và ổn định thì cần giao cháu Đ và cháu V cho chị T được trực tiếp nuôi dưỡng theo nguyện vọng của chị T và con chung là phù hợp với khoản 2 Điều 81 Luật HN&GĐ.
[2.4] Về cấp dưỡng nuôi con chung, chị T tự nguyện không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị T là yêu cầu tự nguyện phù hợp với pháp luật cần xác nhận.
[3] Về tài sản chung, công nợ, công sức đóng góp của vợ chồng: Chị T không đề nghị Tòa án giải quyết nên Tòa án không đặt ra xem xét.
[4] Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị T phải chịu 300.000 đồng.
[5] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 207; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228; Điều 238; Điều 273; khoản 1, 2 Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 123 của Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Đào Thị T được ly hôn anh Đinh Tiến T1.
- Về con chung: Giao cho chị Đào Thị T được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục hai con chung là cháu Đinh Trọng Đ, sinh ngày 17/3/2011 và cháu Đinh Trọng V, sinh ngày 30/4/2013. Xác nhận chị T tự nguyện không yêu cầu anh T1 phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị.
- Anh T1 có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung không ai được cản trở.
- Về tài sản chung, công nợ, công sức đóng góp của vợ chồng: Không đặt ra xem xét giải quyết.
- Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Đào Thị T phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng). Xác nhận chị T đã nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa số: 0000560 ngày 18/3/2025 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ.
- Về quyền kháng cáo: Chị T có mặt tại Việt Nam có quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để đề nghị Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm. Anh T1 cư trú ở nước ngoài vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 (Một) tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Tuấn Anh |
Bản án số 65/2025/HNGĐ-ST ngày 06/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 65/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị và anh Đinh Tiến Thành kết hôn tự nguyện có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Kim Đức, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ ngày 19/7/2010. Sau khi kết hôn tình cảm vợ chồng hòa thuận hạnh phúc đến năm 2019 thì vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng không hợp nhau, không có tiếng nói chung vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng căng thẳng. Hai vợ chồng đã sống ly thân nhiều năm nay. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không còn hòa hợp nữa nên đề nghị ly hôn anh Thành để ổn định cuộc sống. Về con chung: Chị Thắm xác định vợ chồng có hai con chung là cháu Đinh Trọng Đại, sinh ngày 17/3/2011 và cháu Đinh Trọng Việt, sinh ngày 30/4/2013. Chị đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung, chị không yêu cầu anh Thành phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị. Về tài sản chung, công nợ, công sức đóng góp của vợ chồng: Chị Thắm không đề nghị Tòa án giải quyết.
