Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ CAI LẬY

TỈNH TIỀN GIANG

Bản án số: 65/2025/DS-ST

Ngày: 19-6-2025

V/v “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Cẩm Loan

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Văn Tám
  2. Ông Lê Văn Tám

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Tín, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Trúc Như – Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 386/2024/TLST-DS ngày 26 tháng 12 năm 2024 về tranh chấp “Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 54/2025/QĐXX-ST ngày 28 tháng 4 năm 2025; quyết định hoãn phiên tòa số 67/2025/QÐST-DS ngày 16 tháng 5 năm 2025 và quyết định hoãn phiên tòa số 38/2025/QÐST-DS ngày 29 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Q1;

Địa chỉ trụ sở chính: Tầng A (tầng trệt) và tầng 2, Tòa nhà S - A P, Phường B, Quận A, TP Hồ Chí Minh.

Đại diện theo pháp luật: Ông Hàn Ngọc V. Chức danh: Tổng giám đốc.

Đại diện theo ủy quyền: Bà Trần Thị Thu H. Chức vụ: Giám đốc Trung tâm X (theo Giấy ủy quyền V/v tham gia tố tụng số 196265.24 ngày 18/9/2024).

Địa chỉ liên hệ: Tầng 1 (tầng trệt) và tầng 2, Tòa nhà S - A P, Phường B, Quận A, TP Hồ Chí Minh.

Ủy quyền lại:

  1. Ông Phan Văn Dũng E. Chức vụ: Cán bộ Ngân hàng TMCP Q1.
  2. Ông Trần Văn Q. Chức vụ: Cán bộ Ngân hàng TMCP Q1.
  3. Ông Nguyễn Hồng T. Chức vụ: Cán bộ Ngân hàng TMCP Q1.

Địa chỉ liên hệ: Tầng F, Tòa nhà P, số B U, Phường B, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

(Theo Giấy ủy quyền V/v nộp đơn khởi kiện và tham gia tố tụng số 264132.24 ngày 22/11/2024).

* Bị đơn: Ông Nguyễn Vũ P, sinh năm 1991;

Địa chỉ: ấp T, xã T, thị xã C, tỉnh Tiền Giang.

(Ông Trần Văn Q có mặt; ông Nguyễn Vũ P vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Trong Đơn khởi kiện ngày 22 tháng 11 năm 2024, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Q1 trình bày:

Ngân hàng TMCP Q1 (V1) đã ký kết với ông Nguyễn Vũ P hợp đồng tín dụng số 6816298.21 ngày 27/12/2021 với nội dung Ngân hàng TMCP Q1 cho ông Nguyễn Vũ P vay số tiền 4.600.000.000đồng; mục đích vay vốn là bù đắp vốn tự có tiền mua bất động sản tại thửa đất số 126, tờ bản đồ số 37, tại phường P, TP B, tỉnh Bến Tre; thời hạn vay 360 tháng, từ ngày tiếp theo ngày khoản tín dụng được giải ngân đến ngày 06/01/2052. Lãi suất tại thời điểm giải ngân là 9.1%. Lãi suất này là lãi suất ưu đãi và chỉ được áp dụng trong 12 tháng đầu tiên kể từ ngày giải ngân khoản tín dụng. Hết thời hạn ưu đãi nói trên, lãi suất sẽ được điều chỉnh lại 03 tháng một lần bằng lãi suất cơ sở theo sản phẩm cộng biên độ 3.5%/năm. Hoàn trả khoản tín dụng gốc hàng tháng vào ngày 06, ngày trả nợ đầu tiên: 07/02/2022 theo phân kỳ như sau: 60 kỳ đầu mỗi tháng trả 3.200.000đồng, từ kỳ thứ 61 đến kỳ thứ 359 mỗi tháng trả 14.700.000đồng, kỳ cuối trả hết số tiền gốc còn lại. Ngày trả lãi hàng tháng vào ngày 06, kỳ trả nợ đầu tiên vào ngày 07/02/2022. Ngày trả phí: theo quy định của V1 từng thời kỳ. Ngày 06/01/2022, V1 đã giải ngân cho ông Nguyễn Vũ P theo đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 2734406.21 với số tiền 4.600.000.000đồng theo đúng yêu cầu của khách hàng và phù hợp với hợp đồng tín dụng

Ngoài ra, theo đơn đề nghị phát hành thẻ ngày 12/08/2022: Ngân hàng TMCP Q1 (V1) đồng ý cấp thẻ tín dụng cho ông Nguyễn Vũ P chi tiết như sau:

Thẻ tín dụng có số thẻ 100001463556, loại thẻ tín dụng quốc tế VIB Cash Back, hạn mức: 200.000.000đồng, lãi suất và phí theo quy định của V1 từng thời kỳ.

Tài sản bảo đảm cho khoản vay: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 326, tờ bản đồ số 37, địa chỉ tại phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở tài sản khác gắn liền với đất số: DC 329075, số vào số cấp GCN: CS12778 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh B cấp ngày 23/12/2021 cho ông Nguyễn Vũ P. Tài sản này được thế chấp tại VIB theo hợp đồng thế chấp số công chứng 34, quyển số 01/2022TP/C-SCC/HĐGD do Văn phòng C1, tỉnh Bến Tre công chứng ngày 05/01/2022, việc thế chấp và đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật.

Quá trình thực hiện hợp đồng, ông Nguyễn Vũ P đã vi phạm nội dung thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp đã ký, khoản vay đã quá hạn thanh toán từ ngày 06/04/2023 và đang xếp loại nợ Nhóm 5 là nợ xấu theo quy định tại Điều 10 Thông tư số 31/2024/TT-NHNN ngày 30/06/2024 của Ngân hàng N.

Tính đến ngày 19/6/2025, ông Nguyễn Vũ P đã thanh toán cho V1 số tiền là 572.368.617 đồng trong đó gốc là 44.800.000 đồng, lãi là 527.568.617 đồng) và còn nợ Ngân hàng TMCP Q1 số tiền là 6.987.986.907 đồng.

Ngân hàng TMCP Q1 yêu cầu cầu:

  1. Buộc ông Nguyễn Vũ P phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP Q1 tổng số tiền 6.987.986.907đồng (Bằng chữ: sáu tỷ chín trăm tám mươi bảy triệu chín trăm tám mươi sáu nghìn chín trăm linh bảy đồng – trong đó: vốn là 4.722.389.908 đồng, lãi là 2.225.294.370 đồng và phí là 40.302.629 đồng).
  2. Ngân hàng tiếp tục tính lãi, phí, lãi quá hạn kể từ ngày 20/6/2025 cho đến khi ông Nguyễn Vũ P thanh toán xong toàn bộ khoản nợ theo lãi suất quy định tại Hợp đồng tín dụng số 6816298.21 ngày 27/12/2021; Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 2734406.21 ngày 06/01/2022; Đơn đề nghị phát hành thẻ ngày 12/8/2022.
  3. Trong trường hợp ông Nguyễn Vũ P không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng, đề nghị Tòa án tuyên Ngân hàng TMCP Q1 có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản bảo đảm, cụ thể là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số: 326, tờ bản đồ số: 37, địa chỉ: phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre, theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: DC 329075, số vào số cấp GCN: CS12778 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh B cấp ngày 23/12/2021 cho ông Nguyễn Vũ P. Tài sản này được thế chấp tại Ngân hàng theo Hợp đồng thế chấp số công chứng: 34, Quyền số: 01/2022TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng C1, tỉnh Bến Tre công chứng ngày 05/01/2022 và toàn bộ vật phụ, trang thiết bị kèm theo và phần giá trị công trình, diện tích cải tạo, đầu tư xây dựng thêm gắn liền với diện tích nhà đất đã thế chấp để thu hồi nợ vay cho Ngân hàng.
  4. Bất kỳ sự thay đổi, sửa chữa, năng cấp nào của ông Nguyễn Vũ P đối với tài sản thế chấp làm tăng giá trị thực tế của tài sản thế chấp sẽ được coi là bộ phận không thể tách rời thuộc tài sản thế chấp để thu hồi nợ vay cho Ngân hàng (theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 8981801.21.601 ngày 05/01/2022).
  5. Toàn bộ số tiền thu được từ việc xử lý tài sản đảm bảo được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ cho bên vay vốn với Ngân hàng. Trường hợp nếu số tiền thu được từ xử lý tài sản đảm bảo không đủ để thanh toán hết nợ thì bên vay vốn vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ còn lại cho Ngân hàng.

* Quá trình giải quyết vụ án bị đơn Nguyễn Vũ P đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng ông P không có văn bản trình bày ý kiến, không tham gia phiên hòa giải nên Tòa án không tiến hành hòa giải được.

Tại phiên tòa,

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Bị đơn ông Nguyễn Vũ P đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không rõ lý do.

* Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:

  • Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa, đương sự (trừ bị đơn) trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng theo quy định pháp luật.
  • Về nội dung vụ án: Đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xác định đây là tranh chấp hợp đồng tín dụng, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang theo quy định tại khoản 3 Điều 26, Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bị đơn ông Nguyễn Vũ P đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do, căn cứ vào Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị đơn Nguyễn Vũ P theo thủ tục chung.

[2] Về nội dung:

[2.1] Xét Ngân hàng Thương mại cổ phần Q1 (sau đây gọi chung là Ngân hàng) yêu cầu ông Nguyễn Vũ P phải thanh toán cho Ngân hàng số tiền tổng cộng 6.987.986.907đồng (Bằng chữ: sáu tỷ chín trăm tám mươi bảy triệu chín trăm tám mươi sáu nghìn chín trăm linh bảy đồng – trong đó: vốn là 4.722.389.908 đồng, lãi là 2.225.294.370 đồng và phí là 40.302.629 đồng), và tiền lãi phát sinh từ ngày 20/6/2025 đến ngày ông Nguyễn Vũ P thực trả hết nợ cho Ngân hàng theo lãi suất quy định tại Hợp đồng tín dụng số 6816298.21 ngày 27/12/2021; Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 2734406.21 ngày 06/01/2022; Đơn đề nghị phát hành thẻ ngày 12/8/2022.

Chứng minh cho yêu cầu khởi kiện nguyên đơn có cung cấp được chứng cứ là Hợp đồng tín dụng số 6816298.21 ngày 27/12/2021; Đơn đề nghị giải ngân kiêm Khế ước nhận nợ số 2734406.21 ký ngày 06/01/2022; Hợp đồng thế chấp số 8981801.21.601 ngày 05/01/2022; Đơn đề nghị phát hành thẻ ngày 12/08/2022; Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: DC 329075, số vào số cấp GCN: CS12778 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh B cấp ngày 23/12/2021 cho ông Nguyễn Vũ P; Đơn yêu cầu đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất ngày 05/01/2022 và các chứng từ giao dịch thể hiện nội dung vay nợ giữa ông Nguyễn Vũ P và Ngân hàng TMCP Q1. Bị đơn Nguyễn Vũ P đã được thông báo các văn bản tố tụng, bản sao các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp và triệu tập hợp lệ nhưng bị đơn không có ý kiến phản đối đối với lời trình bày của nguyên đơn. Căn cứ vào Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự đủ cơ sở xác định các tình tiết, tài liệu chứng cứ mà nguyên đơn đưa ra là có thật.

Hợp đồng tín dụng số 6816298.21 ngày 27/12/2021; đơn đề nghị phát hành thẻ ngày 12/08/2022 và đơn đề nghị giải ngân kiêm Khế ước nhận nợ số 2734406.21 ký ngày 06/01/2022 giữa Ngân hàng và ông Nguyễn Vũ P được giao kết trên cơ sở tự nguyện, mục đích và nội dung hợp đồng tín dụng, đơn đề nghị giải ngân kiêm Khế ước nhận nợ và đơn đề nghị phát hành thẻ không vi phạm điều cấm của luật, căn cứ vào Điều 117 và Điều 401 của Bộ luật Dân sự thì Hợp đồng tín dụng số 6816298.21 ngày 27/12/2021; đơn đề nghị giải ngân kiêm Khế ước nhận nợ số 2734406.21 ký ngày 06/01/2022 và đơn đề nghị phát hành thẻ ngày 12/08/2022 có hiệu lực và những thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số 6816298.21 ngày 27/12/2021; đơn đề nghị giải ngân kiêm Khế ước nhận nợ số 2734406.21 ký ngày 06/01/2022 và đơn đề nghị phát hành thẻ ngày 12/08/2022 có giá trị ràng buộc các bên khi tham gia giao dịch.

Do bị đơn đã không thực hiện việc thanh toán theo đúng hạn nên đến ngày 06/4/2023 Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ sang nợ quá hạn và tính lãi theo lãi suất nợ quá hạn là phù hợp với quy định tại tiểu mục 1.4.6, mục 1; tiểu mục 4.1 và 4.3 mục 4 của Phụ lục 01 – Tài liệu giải ngân (Điều khoản và điều kiện cấp tín dụng) kèm theo Hợp đồng tín dụng giao kết giữa Ngân hàng và ông Nguyễn Vũ P và quy định tại Điều 91 của Luật các Tổ chức tín dụng.

Hội đồng xét xử xét thấy nguyên nhân dẫn đến tranh chấp là hoàn toàn do lỗi của bị đơn không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả tiền khi đến hạn theo đúng thỏa thuận là vi phạm nghĩa vụ của ông Nguyễn Vũ P theo quy định tại tiểu mục 1.4 mục 1 của Phụ lục 01 – Tài liệu giải ngân (Điều khoản và điều kiện cấp tín dụng) và quy định tại Điều 95 của Luật các Tổ chức tín dụng.

Do đó yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc trả tiền vốn và lãi là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2.2] Về tài sản thế chấp và xử lý tài sản thế chấp:

Để bảo đảm cho khoản vay, ông Nguyễn Vũ P đã thế chấp cho Ngân hàng tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 326, tờ bản đồ số 37, địa chỉ phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre, theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DC 329075, số vào số cấp GCN CS12778 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh B cấp ngày 23/12/2021 cho ông Nguyễn Vũ P. Tài sản này được thế chấp tại Ngân hàng theo Hợp đồng thế chấp số 8981801.21.601 ngày 05/01/2022 đã được Văn phòng C1, tỉnh Bến Tre công chứng số công chứng 34, quyển số 01/2022TP/CC-SCC/HĐGD ngày 05/01/2022.

Tại biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 25/3/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre ghi nhận: trên thửa đất số 326, tờ bản đồ số 37, địa chỉ phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre là đất trống, không có nhà cửa, công trình kiến trúc hay cây trồng gì trên đất.

Xét thấy, Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 8981801.21.601 ngày 05/01/2022 được ký kết trên cơ sở tự nguyện, không trái pháp luật, đạo đức xã hội, tuân thủ các quy định của pháp luật về nội dung và hình thức nên được pháp luật thừa nhận và bảo vệ, đồng thời được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố B, tỉnh Bến Tre ngày 05/01/2022, nên có hiệu lực pháp luật theo quy định tại Điều 298 của Bộ luật Dân sự.

Do đó, Ngân hàng yêu cầu trường hợp ông P không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án xử lý tài sản bảo đảm theo những nội dung các bên đã thỏa thuận trong Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất để thu hồi nợ là phù hợp với Điều 9 của Hợp đồng thế chấp số 8981801.21.601 ngày 05/01/2022 và quy định tại Điều 299 của Bộ luật Dân sự, nên được chấp nhận.

[3] Về án phí sơ thẩm: Ông Nguyễn Vũ P có nghĩa vụ chịu án phí đối với yêu cầu của nguyên đơn được Hội đồng xét xử chấp nhận theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016; trả lại cho Ngân hàng tiền tạm ứng án phí đã nộp.

[4] Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 400.000đồng. Ngân hàng đã tạm nộp 400.000đồng nên bị đơn Nguyễn Vũ P có nghĩa nộp hoàn lại cho nguyên đơn 400.000đồng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ.

[5] Xét đề nghị của đại diện viện kiểm sát là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Điều 91, 95 của Luật các tổ chức tín dụng;

Căn cứ Điều 117, Điều 293, Điều 294, Điều 295, Điều 298, Điều 299, Điều 323 và Điều 463 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Căn cứ Điều 7, Điều 8 và điểm a khoản 1 Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hưởng dẫn một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm,

Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần Q1.

Buộc ông Nguyễn Vũ P có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Q1 số tiền 6.987.986.907đồng (Bằng chữ: sáu tỷ chín trăm tám mươi bảy triệu chín trăm tám mươi sáu nghìn chín trăm linh bảy đồng – trong đó: vốn là 4.722.389.908 đồng, lãi là 2.225.294.370 đồng và phí là 40.302.629 đồng).

Kể từ ngày 20/6/2025 cho đến khi thi hành án xong, ông Nguyễn Vũ P còn phải chịu lãi theo lãi suất các bên thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 6816298.21 ngày 27/12/2021; Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 2734406.21 ngày 06/01/2022; Đơn đề nghị phát hành thẻ ngày 12/8/2022.

Trường hợp ông Nguyễn Vũ P không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng Thương mại cổ phần Q1 được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án kê biên và bán đấu giá các tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp số 8981801.21.601 ngày 05/01/2022 (Hợp đồng thế chấp số công chứng 34, Quyển số 01/2022TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng C1, tỉnh Bến Tre công chứng ngày 05/01/2022) để thu hồi nợ.

Toàn bộ số tiền thu được từ việc xử lý tài sản đảm bảo được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ cho ông Nguyễn Vũ P với Ngân hàng Thương mại cổ phần Q1. Trường hợp nếu số tiền thu được từ xử lý tài sản đảm bảo không đủ để thanh toán hết nợ thì ông Nguyễn Vũ P vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ còn lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Q1.

  1. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Ông Nguyễn Vũ Phương C 57.493.993 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Trả lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Q1 57.114.875 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0000520 ngày 20/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.

  1. Về chi phí tố tụng: Ông Nguyễn Vũ P có nghĩa vụ trả lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Q1 400.000đồng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ.
  1. Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
  1. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tiền Giang;
  • - VKSND thị xã Cai Lậy;
  • - Chi cục THADS thị xã Cai Lậy;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS, AV.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Thị Cẩm Loan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 65/2025/DS-ST ngày 19/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY TỈNH TIỀN GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 65/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY TỈNH TIỀN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu NH
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger